Khám phá chi tiết bệnh ung thư di căn như thế nào |
||
| Dạng tài liệu | : | Bài trích bản tin |
| Ngôn ngữ tài liệu | : | vie |
| Tên nguồn trích | : | Khoa học Công nghệ Môi trường |
| Dữ liệu nguồn trích | : | 2005/Số 10/Thành tựu mới-Công nghệ mới-sản phẩm mới |
| Đề mục | : |
76 Y học và y tế
76.03 Y sinh học |
| Từ khoá | : | bệnh ung thư ; di căn |
| Nội dung: | ||
|
Khi bệnh ung thư di căn, người bệnh sẽ chết. Vì vậy mà rất nhiều nghiên cứu về ung thư và thuốc chữa ung thư đều tập trung nghiên cứu vào quá trình chuyển hóa khiến ung thư chuyển sang di căn - quá trình lây lan từ bộ phận này sang bộ phận khác của cơ thể.
Các nhà nghiên cứu trường Đại học Cornell cho tới nay đã tìm hiểu rõ hơn hoạt động của quá trình này và có thể sẽ giúp họ trong tương lai nghiên cứu ra phương pháp điều trị bằng thuốc nhằm ngăn chặn quá trình dẫn tới hiện tượng di căn. Một nghiên cứu được đăng trên Tạp chí Developmental Cell (Số 9, 8/2005) cho biết việc mô liên kết giữ cố định một tế bào ung thư tại nơi có thể bị thoái hóa ra sao, cho tế bào ung thư di chuyển và để cho tế bào này lây lan sang các bộ phận khác của cơ thể như thế nào. Jun-Lin Guan, giáo sư thuộc khoa Y học Phân tử, Trường Veterinary Medicine ở Cornell và là tác giả của bài nghiên cứu trên cho biết “Chúng tôi đã xác định được một quá trình chính xác của bệnh ung thư. Vì vậy kể từ nay, nếu ai đó xác định được một loại thuốc ngăn chặn quá trình này thì đó có thể sẽ phải là thuốc không gây ảnh hưởng tới chức năng tế bào bình thường nhưng vẫn tác động tới hoạt động của tế bào ung thư”. Điều đó sẽ giảm được tác dụng phụ của thuốc. Guan và các đồng sự đã sử dụng một dòng tế bào cấy ghép để nghiên cứu bệnh ung thư, đó là các tế bào của chuột được phát triển trong phòng thí nghiệm với mục đích nghiên cứu. Các nhà nghiên cứu đã sử dụng các tế bào này nhằm tạo ra một hệ thống mẫu các tế bào ung thư, điều đó có nghĩa là quá trình cơ bản của hệ thống mẫu này tồn tại trong những hệ thống có thực, trong khi các protein thực sự tác động tới hệ thống này có thể biến đổi. Trong hệ thống mẫu này, các nhà nghiên cứu khám phá ra những khác biệt quan trọng giữa các tế bào ung thư và các tế bào thường theo một cơ chế gọi là nội nhập bào (endocytosis) - các tế bào để vật chất thâm nhập vào bên trong qua màng tế bào. Các nhà nghiên cứu sử dụng một loại protein có tên là v-Src có nguồn gốc từ một virus gây bệnh ung thư, có khả năng biến đổi một bế bào bình thường thành một tế bào với nhiều đặc điểm giống với các đặc điểm của các tế bào ung thư. Trong khi loại virus này vẫn chưa được tìm thấy ở người, nó lại làm cho khối u phát triển trong cơ thể gà và tạo ra các tế bào ung thư trong hệ thống cấy ghép này. Trong nghiên cứu trên, các nhà nghiên cứu thấy rằng protein v-Src bám vào một enzim, được gọi là kinaza dính bám tiêu điểm (focal adhesion kinase) nằm bên trong tế bào. Liên kết này bắt đầu một loạt các tương tác mạnh giữa các protein trong tế bào, cuối cùng tế bào này chặn một số protein bề mặt tế bào thâm nhập qua màng tế bào. Một trong những protein này không được thâm nhập vào bên trong là MT1-MMP. Vì chất này tích tụ trên bề mặt tế bào nên nó làm thoái hóa mô liên kết - mô giữ tế bào ung thư cố định. Sự hình thành protein MT1-MMP cũng làm hoạt hóa một enzim gọi là MMP2 và gây thoái hóa hơn nữa mô liên kết này. Do đó, thế bào ung thư mất đi chân bám (moorings) và có thể phát ra lây lan khắp cơ thể. Mặc dù chưa ai tìm ra protein v-Src trên cơ thể bệnh nhân bị ung thư, rất nhiều bệnh ung thư khác cũng có liên quan tới các virus, kể cả virus herpes (virus gây bệnh mụn giộp) và liên quan tới bệnh ung thư cổ tử cung. Guan nói: “Những người chỉ trích công trình nghiên cứu này sẽ hỏi tại sao protein v-Src chưa tìm thấy được ở người bị ung thư. Nhưng có nhiều mẫu nghiên cứu và nhiều ý tưởng phát triển từ nghiên cứu như thế này đã khuyến khích các nghiên cứu có liên quan với mục đích điều trị bệnh”. Guan cho biết thêm: “Chúng tôi đã theo dõi gian đoạn cuối của bệnh ung thư và quá trình lây lan của bệnh trong cơ thể. Những vùng bị di căn khó được phân tích rõ ràng, và đó là vùng di căn hại chết con người”. N.M.N. (theo Sciencedaily, 2/8/2005) |
||
