Bằng chứng về sự giao tiếp của voi bằng tín hiệu truyền dưới đất |
||
| Dạng tài liệu | : | Bài trích bản tin |
| Ngôn ngữ tài liệu | : | vie |
| Tên nguồn trích | : | Khoa học Công nghệ Môi trường |
| Dữ liệu nguồn trích | : | 2005/Số 9/Tham khảo-tìm hiểu |
| Đề mục | : | |
| Từ khoá | : | |
| Nội dung: | ||
|
Các kết quả nghiên cứu ban đầu của một nghiên cứu mới cho thấy những con voi có thể giao tiếp với nhau thông qua những tín hiệu bên dưới mặt đất. Những kết quả này giải thích tại sao những con voi được huấn luyện ở Thái Lan trở nên bị kích động và bỏ chạy trước cơn sóng thần đã khiến hơn 200.000 người chết vừa diễn ra ở Đông Nam Á vào ngày 26 tháng 12 vừa qua. Khả năng thoát hiểm này đã cứu được mạng sống của chính những con voi và cả những người khách du lịch đang cưỡi voi lúc đó. Những kết quả nghiên cứu trên được nhà sinh thái học Caitlin O’Connel-Rodwell ở trường Đại học Stanford, California đưa ra. Năm 1997, Caitlin O’Connel-Rodwell đã đưa ra ý kiến cho rằng voi có thể giao tiếp với nhau thông qua các tín hiệu bí ẩn sinh ra các xung động mạnh dưới đất hay còn được gọi là các tín hiệu địa chấn. Những con voi có thể cảm nhận được những xung động này nhờ vào chiếc mũi nhạy cảm hay nhờ bàn chân. Giao tiếp bằng sóng địa chấn là hiện tượng phổ biến ở một số loài động vật nhỏ, như nhện, bọ cạp và hải cẩu vốn không có mối liên quan gì đến loài voi. Caitlin chính là người đầu tiên đề xuất rằng loài động vật kích thước lớn trên đất liền có thể gửi và nhận các thông điệp dạng tín hiệu địa chấn. Các tín hiệu này có thể sẽ rất có ích bởi vì chúng có thể truyền đi nhanh hơn so với các tín hiệu khác truyền theo đường không khí. Loài voi cũng có thể cảm nhận môi trường tốt hơn so với con người. Các nghiên cứu trước đây chỉ ra rằng đôi khi những con voi còn di chuyển đến những nơi có bão cách xa đó. Ví dụ khi có mưa ở Angola, những con voi ở cách đó 100 dặm ở Công viên quốc gia Etosha bắt đầu di chuyển về phía bắc để tìm kiếm nguồn nước, có thể là chúng cảm nhận được các xung động dưới đất do sấm chớp gây ra. Những con voi có thể cùng phát và nhận tín hiệu. Song việc phát tín hiệu lại không nhất thiết có chủ ý, đó có thể là các âm thanh phụ phát ra khi voi chạy, bị tấn công hoặc khi chúng tạo không khí ầm ĩ. Những con voi cũng có thể gửi tín hiệu để giao phối, hoặc muốn thông báo có kẻ thù ở khu vực xung quanh bằng việc thu nhận tín hiệu địa chấn từ một bầy voi đang gặp nguy hiểm. Vào thập kỷ 80, các nhà khoa học đã phát hiện thấy loài voi có thể phát ra những âm thanh dưới mức nghe được của con người, nhưng các loài động vật da dày khác cách đó 2 dặm lại có thể phát hiện. Các nhà khoa học tin rằng khả năng giao tiếp ở khoảng cách xa này có ý nghĩa sống còn đối với sự tồn tại của loài voi, nhất là khi chúng sinh sống trên một địa bàn rộng lớn. Vào tháng 7 năm ngoái, nhóm nghiên cứu của O’Connell-Rodwell đã đến Công viên quốc gia Etosha ở miền bắc Namibia để tiến hành thử nghiệm về tín hiệu địa chấn. Tại công viên này, có tới hơn 2.400 con voi sinh sống trên một diện tích lớn hơn cả El Salvador. Nhóm nghiên cứu đã hạ trại tại vũng Mushara là suối nước ngọt mà voi, hươu cao cổ, sư tử và nhiều loài động vật khác tụ tập để tắm và uống nước trong suốt mùa hè khô hạn ở Namibia. Nhóm nghiên cứu đã mất vài tháng để thử nghiệm các bầy voi phản ứng như thế nào trước những tiếng kêu khác nhau được phản xạ lại từ nền đất. Bầy voi sống theo chế độ “mẫu hệ”. Khi một con đực trưởng thành, tương đương với 12 năm tuổi, chúng tách khỏi đàn, sống một mình hoặc lập thành một đàn nhỏ gồm những con voi độc thân. Việc tìm kiếm bạn đời trong một khu vực hoang dã rộng lớn thường khó khăn bởi đặc điểm sinh sản của loài voi. Voi cái chỉ thực hiện chức năng sinh sản khi chúng đang trong thời kỳ rụng trứng, chỉ diễn ra 2 năm một lần và kéo dài chỉ trong vài ngày. Những con voi cái trong thời kỳ này phát ra những tiếng kêu dài, rất khẽ để gọi con đực vì đây là trường hợp rất hiếm xảy ra. Những tiếng kêu có tác động mạnh này có thể truyền đi trong không khí hơn 2 dặm kèm theo các tín hiệu địa chấn. Các bầy voi đang trong thời kỳ sinh sản thường có những tiếng kêu trầm để cảnh báo kẻ thù. Những con voi trưởng thành thường không có kẻ thù, ngoại trừ con người, song đối với những con voi con thì kẻ thù thường là sư tử hoặc linh cẩu. Khi kẻ thù xuất hiện, những thành viên lớn tuổi trong đàn phát ra những tiếng kêu cảnh báo gọi cả đàn tập hợp và kết thành khối để bảo vệ đàn hoặc cùng bỏ chạy. Năm 1994, O’Connell-Rodwell đã ghi lại những tiếng kêu la một bầy voi đang trong thời kỳ sinh sản bị sư tử đe dọa ở vũng Mushara. Bầy voi đã rất hoảng sợ và voi đầu đàn đã đưa ra tiếng cảnh báo đầy uy lực, sau đó cả bầy cùng la hét và rống lên. Kể từ đó, cứ mỗi lần bật lại cuốn băng ghi âm này, các nhà khoa học cùng nhận được một phản ứng tương tự, đó là các con voi cùng bỏ chạy. Phản ứng trước tiếng kêu chỉ là một vấn đề, vậy liệu những con voi này có bỏ chạy khi cảm nhận được tiếng kêu phát ra từ dưới đất. Để tìm hiểu vấn đề này, các nhà nghiên cứu đã sử dụng một thiết bị chuyển đổi âm thanh thành xung động. Họ chôn thiết bị này gần vũng Mushara vào năm 2002 và kết nối nó với một máy phát được đặt trên tháp quan sát. Cứ mỗi lần có bầy voi xuất hiện ở vũng Mushara, O’Connell-Rodwell lại cho bật băng về tiếng cảnh báo của bầy voi năm 1994 được chuyển thành xung động nhờ thiết bị trên. Kết quả cho thấy những con voi có thể phát hiện tiếng kêu cảnh báo phát ra từ đất. Cả bầy voi kết lại thành khối và bỏ đi. Nhưng đó chỉ là một dạng tiếng kêu được ghi băng, các nhà khoa học chưa chắc chắn tiếng kêu đó có được diễn giải chính xác không. Có thể bầy voi cho rằng đó là một thiết bị hoặc một cái gì đó kỳ lạ thay cho lời cảnh báo kẻ thù. Thử nghiệm 2004 dùng để giải quyết vấn đề bằng ba loại tiếng kêu được ghi băng, đó là tiếng kêu cảnh báo năm 1994; tiếng kêu chống lại kẻ thù ghi lại ở Kenya; và một tín hiệu giả khác. Cả ba âm thanh này được bật lên vào các thời điểm khác nhau để xem những con voi có phản ứng như thế nào trước mỗi dạng âm thanh đó. Các nhà khoa học muốn xác định những con voi có thể phân biệt những tiếng kêu lạ hoặc quen thuộc được phản hồi lại dưới dạng tín hiệu địa chấn. Những kết quả ban đầu đang được đánh giá, nhưng O’Connell-Rodwell đã có những quan sát cơ bản. Loài voi đã phản ứng theo cách mà các nhà khoa học mong đợi. Khi nghe thấy tiếng kêu năm 2004, chúng tụ lại và nhanh chóng bỏ đi. Song điều thú vị là với những tiếng kêu lạ chống lại kẻ thù ở Kenya, bầy voi cũng kết thành khối, trở nên lo lắng và xông xáo xung trận, nhưng không nhất thiết phải bỏ đi. Những phát hiện trên đây có thể có ý nghĩa trong công tác bảo tồn. Tiếng ồn do con người tạo ra có thể là mối đe dọa đến cuộc sống của loài voi. Các nhà nghiên cứu đã phát hiện thấy cánh quạt của máy bay trực thăng tạo ra âm thanh độ thấp, và đó có thể là các xung động địa chấn có thể gây xáo trộn và làm các bầy voi hoang dã cách xa đó hoảng sợ. Một số nhà nghiên cứu cho rằng cần phải kiểm soát cẩn thận hoạt động của máy bay trực thăng tại các khu vực có voi sinh sống. O’Connell-Rodwell hy vọng sẽ mở rộng nghiên cứu tới các loài động vật kích thước lớn khác có tiếng kêu với âm thanh ở tần suất số như tê giác, sư tử và hươu cao cổ. Đây là một nghiên cứu cơ bản có ý nghĩa quan trọng. Giống như nhiều loài sinh vật khác, con người chỉ cảm nhận được các dải âm và cảm giác hạn chế. Các nhà nghiên cứu muốn thực hiện nghiên cứu này vì có một giả thuyết không đúng cho rằng động vật nhìn nhận thế giới theo cách của con người. N.H. (theo world-science, 6/2005) |
||
