Tìm kiếm nâng cao

Số truy cập:
Home » Cơ sở dữ liệu toàn văn » Ấn phẩm điện tử của Trung tâm » Khoa học Công nghệ Môi trường » 2005 » Số 8 » Tham khảo-tìm hiểu » Khả năng điều hoà điều chỉnh khí huyết của thiền định

Khả năng điều hoà điều chỉnh khí huyết của thiền định

  
Dạng tài liệu : Bài trích bản tin
Ngôn ngữ tài liệu : vie
Tác giả : Nguyễn Ngọc Kha, GS.TS
Tên nguồn trích : Khoa học Công nghệ Môi trường
Dữ liệu nguồn trích : 2005/Số 8/Tham khảo-tìm hiểu
Đề mục : 76.03 Y sinh học
Từ khoá : thiền định
Nội dung:

(tiếp theo)

Tương tác giữa khí và huyết

Tương tác giữa khí huyết của Tây y

Y học phương Tây không quan niệm khí một cách đầy đủ, tổng thể như y học phương Đông, nên không nêu thành nguyên lý của mối quan hệ này. Mặc dầu vậy, ở một khía cạnh nào đó, y học phương Tây đã thừa nhận mối quan hệ tương tác này, đó là: “Các phản xạ điều hòa vận mạch” khi nói đến phản ứng của hệ thần kinh tác động đến hệ mạch trong việc điều hòa máu. Nói cách khác là sự tương tác của hệ thần kinh với sự điều hòa huyết qua sự co dãn đẩy máu lưu thông trong hệ mạch.

Tương tác giữa khí huyết của Đông y

Y học phương Đông rất coi trọng mối quan hệ này và coi nó ngang tầm với mối quan hệ tương tác giữa khí âm và khí dương trong việc điều chỉnh sự cân bằng của cơ thể. Người ta có thể dùng kim châm cứu tác động từ ngoài lên cơ thể hoặc dùng thuốc tác động bên trong, để lập lại cân bằng khí huyết trong việc chữa trị bệnh.

Tóm lại, người phương Đông coi nguyên nhân bệnh tật một cách tổng thể, nó là tác nhân làm mất cân bằng trong cơ thể và khi điều trị họ cũng đã tác động theo nguyên lý tổng thể đó, bằng sự điều hòa lập lại cân bằng khí huyết, cân bằng âm dương.

Tương tác giữa khí huyết dưới góc độ sinh học

Về mô học: Về mô học thì nơi nào có mạch máu thì tại đó cũng có tổ chức thần kinh tới. Những bó mạch máu lớn nhỏ bao giờ cũng cùng đi với dây thần kinh, chưa kể là trên các thành mạch đều có tế bào thần kinh. Ngược lại, trên các dây thần kinh cũng có các mạch máu đến nuôi dưỡng.

Về hoạt động của thần kinh mạch máu: Bất cứ một bộ phận nào, ví dụ: một cánh tay, nếu bị đứt dây thần kinh đến chi phối thì cánh tay đó bị liệt rồi teo đét, ngược lại nếu đứt mạch máu đến nuôi dưỡng thì cánh tay cũng sẽ chết nếu đó là mạch máu lớn và không có hệ tuần hoàn nối (Shunt).

Vài bệnh cảnh lâm sàng của khí huyết:

Cường hoặc thiểu năng khí: Thiểu năng khí trong liệt dây thần kinh VII do lạnh có tính chức năng hoặc cường khí trong hội chứng đau dây thần kinh tam thoa. Các bệnh này có thể điều trị bằng kích hoạt dây VII hoặc ức chế (giải tỏa) dây V có kết quả. Chúng ta đã biết mỗi cung phản xạ ít nhất gồm 3 nơron là 2 nơron chức năng được nối với 1 nơron liên hợp (không có chức năng cảm giác cũng như vận động). Các cung phản xạ trong cơ thể liên kết với nhau giữa cung phản xạ tủy não tủy và não bộ.

Khí sẽ không còn ở một bộ phận ví dụ như chi dưới bị đứt thần kinh hông khoeo, chi liệt và không còn hoạt động được, nói theo nghĩa khác là chi không còn sinh khí. Đối với toàn cơ thể thì võ não là trung khu điều hòa và phát động khí, khi vỏ não chết (điện não không còn có các sóng hoạt động) thì hiện nay người ta vẫn duy trì được hoạt động huyết để cơ thể sống hàng ngày đời sống thực vật, con người đó mất hẳn một vế là hoạt động của khí, cơ thể ấy sẽ không tồn tại được nữa.

Tóm lại, năng lượng của khí cần thiết cho hoạt động của từng bộ phận của toàn cơ thể con người. Khoa học hiện nay cũng chỉ có thể kéo dài hoạt động của huyết khi hoạt động của khí tắt. Ngược lại, khi tim đã ngừng thì chưa can thiệp kéo dài được hoạt động của khí.

Thiểu năng hoặc ưu năng huyết: thiểu năng tuần hoàn như trong co thắt mạch vành hoặc co thắt mạch chi trong viêm tắc mạch chi; cường hay ưu năng tuần hoàn trong phản xạ dãn mạch đưa máu đến vùng viêm trong hội chứng viêm: sưng, nóng, đỏ, đau.

Tóm lại, về tổ chức giải phẫu giữa mạch máu - thần kinh, sinh lý, bệnh lý, mối quan hệ về quan hệ năng lượng đã cho thấy mối quan hệ chặt chẽ hữu cơ giữa thần kinh và mạch máu. Nói cách khác là mối quan hệ hữu cơ khí huyết trong cơ thể con người.

Cơ sở sinh học của Thiền

Gạt bỏ phần triết lý thần học và đời sống thiền sư của đạo Phật sang một bên, thiền sinh học chỉ nghiên cứu cơ chế của quá trình ngồi luyện tập thiền định và tác dụng sinh học của nó. Nghiên cứu quá trình Thiền chúng ta thấy bao gồm 3 yếu tố:

Tập trung tư duy vào luyện tập:

Tập trung ở đây khác với tập trung tập luyện thể thao, tập võ đó là ức chế; theo nghĩa sinh học là ức chế toàn vỏ não (bao gồm các giác quan và hệ thần kinh động vật (ý thức) trên cơ sở giảm tần số pc-kc các tế bào thần kinh ở vỏ não, còn khi tập thể thao, là tập hưng phấn, tăng tần số pc-kc màng các tế bào thần kinh. Theo thiền Phật thì khi Thiền phải tập tủng tư duy vào luyện tập, gạt bỏ mọi ý nghĩ đó là “chánh niệm”.

Thư giãn cơ:

Tập trung điều khiển thư giãn cơ dần dần, chính việc thư giãn cơ đã tác dụng trở lại (Feed back) hệ thần kinh dưới vỏ. Theo Thiền Phật “xả lỏng”.

Điều hòa hô hấp:

Tập trung tư duy vào điều hòa hô hấp (thở vào phình bụng ra, thở ra thót bụng lại - kiểu thở bụng) chậm dần và nông dần đi đôi với thư giãn cơ (giảm tiêu thụ O2 khá lớn vì 40% trọng lượng cơ thể là cơ bắp). Bắt đầu từ hệ thần kinh động vật (ý thức) tác động đến toàn bộ cơ bắp làm giảm tiêu thụ O2 và cũng từ hệ thần kinh này tác động lên trung khu hô hấp (hệ thực vật). Tác động qua lại giữa hệ thần kinh động vật và thực vật đến thần kinh ngoại biên tới cơ rồi tác động trở lại (Feed back) toàn thể não bộ theo định luật phản hồi. Tác động qua lại giữa hệ thần kinh động thực vật ở mức độ luyện tập tốt có thể tác động ức chế lên mọi tế bào của cơ thể.

Người tập thiền tốt có thể thở 1-3 lần/phút, thở rất nông và kéo dài hàng giờ mà không hề rối loạn nội mô, SaO2 trong máu 98%, tim đập chậm đi, huyết áp bình thường và điện não với chùm sáng alpha đẹp báo hiệu một trạng thái yên tĩnh, nghỉ ngơi sâu của vỏ não.

Điều hòa khí huyết của Thiền

Như chúng ta đã biết, khi nhập thiền sâu ở trạng thái vô thức, trạng thái huyền ảo (Subler) nửa thức, nửa ngủ, lúc đó tuần hoàn ổn định ở mức các chỉ số giảm so với lúc nghỉ, hô hấp giảm với giảm tiêu thụ O2 đã nói lên Thiền tác động sâu sắc đến toàn cơ thể, có nghĩa là ở trạng thái cân bằng nội môi. Nói cách khác, đó là trình trạng cân bằng khí huyết, cân bằng giữa tuần hoàn hô hấp với hệ thần kinh.

Ta cũng biết khi Thiền, tương tác giữa hệ thần kinh động vật với hệ thần kinh thực vật là trung khu hô hấp (điều hòa nhịp thở); ở một số người, qua tập luyện, ngoài tương tác giữa hệ thần kinh động vật với hệ thần kinh thực vật là trung khu hô hấp, từ đó có thể tác động lên trung khu vận mạch, làm giãn mạch một số bộ phận cơ thể như làm nóng bàn tay, tác động lên nhân dây thần kinh X làm tăng nhu động ruột để đánh hơi liên tục theo ý muốn.

Tác dụng của Thiền

Thiền có tác dụng cân bằng nội môi có nghĩa là cân bằng trao đổi chất giữa cơ thể với môi trường ở phạm vi vi mô tức là tới từng tế bào. Nói một cách khác, Thiền cân bằng cơ thể cân bằng khí huyết do đó có tác dụng phòng bệnh, nâng cao sức khỏe.

Với vỏ não: sớm cân bằng hoạt động các cung phản xạ não bộ (cân bằng sự phân cực - khử cực) toàn thể 52 vùng “Brodmann” tại vỏ não, vì thế có tác dụng chống mệt mỏi sau khi làm việc căng thẳng. Tránh được các cơn nhức đầu không nguyên cớ, chống: mất ngủ, ngủ không sâu, mộng mị, ác mộng...

Thiền làm thư giãn cơ nên có tác dụng chống mỏi cơ sau khi lao động chân tay, với người già tránh được hiện tượng chuột rút (cân bằng khí huyết).

Một số bệnh chức năng:

+ Thổn thức tim, ngoại tâm thu, cao huyết áp mà không có nguyên cớ thì Thiền giúp tim nghỉ ngơi không phải gắng sức nên điều chỉnh được hệ thần kinh tim.

+ Loét miệng, chảy máu miệng, tái phát đi tái phát lại không nguyên cớ.

+ Táo bón, ăn kém ngon miệng.

+ Tránh đau lưng, mỏi lưng với người già.

+ Giảm các cơn hen và dần dần có thể hết hen

Thiền làm giảm tiêu hao năng lượng, cân bằng thể chất (cân bằng khi huyết ở mức thấp) giúp cơ thể cân bằng thể chất và hoạt động thần kinh giúp con người tự cân bằng nội tại và cân bằng với môi trường vật chất cũng như môi trường xã hội, chống được stress. Đó là cơ sở cho sức khỏe và vui vẻ trong cuộc sống, không hay gặp các tai biến và khi về già dễ ra đi một cách nhẹ nhàng, thanh thản.

KẾT LUẬN

Thiền theo một định nghĩa thông dụng là một trạng thái thư giãn chủ động, tích cực, có hiệu quả cao nhất do luyện tập. Kết quả của Thiền làm cơ thể ở trạng thái tiêu hao năng lượng thấp nhất, ở trạng thái này cơ thể lấy lại cân bằng nội môi, đó cũng là điều kiện thuận lợi để cân bằng tuần hoàn năng lượng, cân bằng khí huyết. Ở một số cá nhân, cá thể, qua tập luyện có thể tạo được tương tác theo ý muốn giữa hệ thần kinh động vật với thực vật, điều hòa điều khiển một số trung khu tự động khác ngoài trung khu hô hấp.

Tóm lại “Thiền định” làm cơ thể cân bằng nội ngoại môi ở mức năng lượng thấp trên cơ sở cân bằng khí huyết* ở mức độ năng lượng thấp.
 
Trung tâm Thông tin Khoa học Công nghệ Quốc gia