Tìm kiếm nâng cao

Số truy cập:

Khả năng điều hoà khí huyết của thiền định

  
Dạng tài liệu : Bài trích bản tin
Ngôn ngữ tài liệu : vie
Tác giả : GS.TS Nguyễn Ngọc Kha
Tên nguồn trích : Khoa học Công nghệ Môi trường
Dữ liệu nguồn trích : 2005/Số 7/Tham khảo-tìm hiểu
Đề mục : 76.99 Các vấn đề khác của y học và y tế
Từ khoá :
Nội dung:

 

Quan niệm “khí huyết” giữa Đông y và Tây y

Nếu như quan niệm về huyết giữa y học Đông phương và y học Tây phương còn có những điểm tương đồng, thì trái lại, quan niệm về khí hoàn toàn khác nhau. Sự khác biệt này cũng dễ hiểu vì y học Đông phương chỉ dựa trên quan sát, thực hành tổng kết mà xây dựng nên. Còn y học phương Tây ngoài việc quan sát thực hành còn tiếp cận cơ thể bằng giải phẫu đại thể, vi thể và bằng thực nghiệm kiểm chứng lại thực hành và quan sát.

Triết học phương Đông quan niệm “khí” như động lực tạo ra Vũ trụ bao hàm mọi hiện tượng trong thế giới: kinh tế, chính trị, xã hội, các hiện tượng tự nhiên đến cả con người… Trâu Diễn, Đổng Trọng Như, 206 năm trước Công nguyên (Tây Hán – Trung Quốc) đã phát triển đạo Nho của Khổng Tử về lý luận Âm Dương ngũ hành trong Vũ trụ, về khí âm, khí dương trong luận điểm Thiên - Địa – Nhân, coi con người như tiểu vũ trụ.

Đời sống của mỗi con người vô cùng ngắn, so với sự tồn tại của đất trời. Có thể nói đất trời là vĩnh cửu so với đời sống của con người. Xem như thế thì luận điểm triết học về khí trong con người mang tính triết học hơn là sinh học.

Quan niệm về “Huyết” giữa y học Đông phương và Tây phương

Huyết trong Y học phương Đông không chỉ là máu, nó còn có ý nghĩa khái quát rộng lớn hơn. Bằng quan sát thực hành cùng với lý thuyết âm dương, Y học phương Đông đã chỉ ra sự tuần hoàn của huyết. Trong khi đó, một thầy thuốc Hy Lạp là Galen (131-201) đã cho rằng máu được tạo ở gan từ thức ăn và chảy thẳng vào các cơ quan và được sử dụng hoàn toàn. Nguyên nhân của sự sai khác này là vì Galen giải phẫu trên súc vật, mãi hơn 1000 năm sau Uyliam Hacvay mới chỉnh lý lại được.

Dinh khí, huyết tuần hoàn trong kinh mạch theo một trình tự nhất định của chu trình tuần hoàn khép kín. Thiền định khí sách Linh khu (khoảng 5-3 năm trước CN) không chỉ nói đến sự tuần hoàn của huyết mà còn chỉ ra con đường vận chuyển huyết theo một hệ thống kinh mạch.

Y học phương Đông tuy chưa thấy đầy đủ được sự tuần hoàn máu “đại tuần hoàn, tiểu tuần hoàn” như ngày nay, nhưng họ cũng đã chỉ ra được sự tuần hoàn theo một lộ trình khép kín hoàn toàn trong các cặp kinh mạch quan hệ chặt chẽ với nhau. Người xưa chưa phân tích được các thành phần cấu tạo máu xong cũng đã chỉ ra được nguồn gốc sinh huyết là từ nguồn dinh dưỡng biến chuyển ra “Quyết khí – Linh khu khoảng 5-3 năm trước CN” từ dinh khí tân dịch, từ tinh tuý, khí trong huyết tư phế…

Tóm lại, “huyết” của y học phương Đông tuần hoàn trong các kinh mạch cũng bao gồm các thành tố tư ngoại sinh, nội sinh và khí của phổi, điều đặc biệt là huyết luôn gắn liền với “khí”. Với lý thuyết “khí huyết” y học phương Đông, người ta cũng đã chữa được khá nhiều bệnh tật mà chủ yếu là các bệnh còn ở giai đoạn chức năng, chưa hoặc sắp chuyển qua giai đoạn tổn thương thực tế. Ví dụ: hội chứng viêm tắc mạch chi (chân), làm thiếu máy gây hoại tử (chết) dần dần các ngón chân, có khi phải chặt cụt đến cả chân. Với luận điểm điều chỉnh khí huyết của y học phương Đông, người ta sử dụng thuốc uống và bôi trên đầu ngón chân và bàn chân làm cho máu lưu thông đến chân đầy đủ, nhiều trường hợp đã tránh được việc cắt cụt chi.

Huyết theo quan điểm y học phương Tây, mãi đến thế kỷ 16 một thày thuốc người Anh là Uyliam Hacvây (1578 - 1657), bác sỹ tốt nghiệp Đại học tổng hợp Paduan đã có cống hiến to lớn vào sự tuần hoàn máu trong luận văn của mình (“Exercitio anatomica de molu cardin et sangainis in animalibus”), trên cơ sở phân tích trên xác người và thực nghiệm cắt động mạch (máu chảy theo nhịp đập tim) buộc tĩnh mạch máu ứ, còn đầu dẫn về tim rỗng... Trên cơ sở những quan sát ấy và nhiều thực nghiệm khác, ông nêu lên giả thiết máu chảy từ tim theo động mạch và trở về tim bằng tĩnh mạch; và rằng máu được sử dụng nhiều lần, trên cơ sở đó ông đã cho rằng động mạch được nối với tĩnh mạch bằng các ống nhỏ bé để khép kín vòng tuần hoàn máu.

Huyết theo quan niệm y học phương Tây bao gồm hệ thống chứa đựng máu là hệ tuần hoàn máu mà động lực chính đẩy máu là tim (bơm máu) và hệ thống động tĩnh mạch, sự tham gia của hệ thần kinh trên thành mạch máu cuối cùng với hệ thần kinh trung ương.

Thành phần cấu thành của máu bao gồm:

-         Các cấu thể như hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu

-         Huyết tương chứa đựng các chất khí hòa tan hoặc kết hợp như O2, CO2, HbO2, HbCO2 ... các chất dinh dưỡng như đạm, đường, mỡ, các sinh tố, các men, các muối khoáng, các phân tử protein kháng thể, các hormon, cả các gốc tự do...

Tóm lại, Tây y đã phân tích huyết thành nhiều yếu tố khác nhau mà mỗi yếu tố giữ một chức phận khác nhau của huyết. Xem như thế đủ thấy tác dụng của huyết là một phức hợp nhiều thành phần của hệ tuần hoàn máu.

Nhìn lại Huyết ở góc độ Đông - Tây y

Chúng tôi cho rằng, ngoài hệ tuần hoàn khép kín còn có một hệ tuần hoàn hở hay bán kín là hệ bạch mạch huyết mà cả phương Đông lẫn phương Tây chưa lưu ý đầy đủ đến nó.

Trong thực hành nhiều trường hợp máu vẫn được hệ tuần hoàn cung cấp đầy đủ đến một vùng nào đó mà vùng đó vẫn dễ bị nhiễm trùng, đó là các trường hợp hạ bạch cầu hay lượng đường trong máu cao... Logic của Đông y khi chữa trị các bệnh về huyết, họ theo một logic tổng thể là tác động không chỉ đến hệ tuần hoàn máu mà còn tác động đến cả các cơ quan liên quan đến hệ huyết mạch.

Từ góc độ này, có thể tạm định nghĩa: “Huyết là năng lượng sản sinh do hệ tuần hoàn đem tới”

Quan niệm về “Khí” giữa y học Đông phương và Tây phương

Quan niệm về “Khí” của y học phương Tây rất đơn giản. Đó là sự trao đổi khí O2, CO2 ... giữa phổi với môi trường ngoài và với các mô trong cơ thể mà bộ máy hô hấp đảm nhiệm cùng với hoạt động của bộ máy tuần hoàn. Sự hoạt động bình thường của bộ máy hô hấp lại do trung khu điều khiển hô hấp thuộc hệ thần kinh thực vật điều khiển. Sự hô hấp luôn luôn biến đổi vì môi trường sống luôn thay đổi cùng với nhu cầu hoạt động của cơ thể, vì thế ngoài sự điều hòa của trung khu hô hấp thì bộ máy hô hấp, cơ quan hô hấp còn chịu nhiều tác động của nhiều yếu tố phản xạ: phản xạ kích thích dây V, dây X, phản xạ nội cảm thụ xoang động mạch chủ..., ngoài ra còn có các trung tâm ức chế, tác dụng của vùng thần kinh dưới đồi, cả đến hoạt động ý thức của vỏ não, xúc cảm cũng làm thay đổi hô hấp...

Trên cơ sở này chúng ta có thể nói sự điều hòa, điều khiển hoạt động của cơ quan hô hấp để điều hòa khí đã chịu tác động của các phản xạ thần kinh. Nói cách khác sự điều hòa khí trong cơ thể chịu sự điều khiển lớn của hệ thần kinh.

Trong khi đó, chúng ta đã biết lý thuyết y học phương Đông có xuất xứ từ nền triết học phương Đông mà nền tảng của nó là vai trò chủ đạo của khí. Khí âm-dương điều hòa cơ thể con người và mỗi căn bệnh có nghĩa là thế cân bằng âm-dương bị lung lay. Cơ thể người gồm có các bộ phận thuộc âm và dương. Nhìn chung thì các bộ phận nội tạng thuộc Dương, phần bên ngoài thuộc Âm: lưng là Dương, ngực là Âm, thế cân bằng giữa các phần đó được một luồng khí chạy dọc theo một hệ thống kinh lạc, trên đó là các huyệt. Mỗi đường kinh lạc liên hệ với một cơ quan thân thể nhất định theo nguyên lý kinh dương thì nối với cơ quan âm và ngược lại. Mỗi khi mối luân lưư giữa Âm Dương bị gián đoạn thì thân thể bị đau ốm. Bệnh tật sẽ được chữa khỏi khi ta dùng kim châm cứu vào các huyệt và dóng khí lại đi vào vận hành.

Một trong nhiều phương pháp tập luyện điều chỉnh cân bằng Âm Dương của người phương Đông là Thiền định. Qua thực hành, người ta cũng đã thấy mối quan hệ giữa tư duy ý chí và khí: “Dùng ý chí điều hòa khí”. Qua đó cũng cho ta thấy người xưa không bằng logic suy luận thực nghiệm mà bằng logic trực giác người ta cũng đã nói lên vai trò của hệ thần kinh với khí: “ý chí điều khí”.

Khí với quan niệm phương Đông - Tây

Dù là Đông hay Tây y, cũng đã nói đến khí như là Quả mà chưa tìm đến cái gốc của Nhân. Tây y nói đến khí cũng như các khí được trao đổi giữa cơ thể và môi trường bên ngoài, còn Đông y nói đến khí như là động lực điều khiển các hoạt động của cơ thể, nhưng cả hai chưa nói đến xuất xứ, cái gốc của khí là gì?

Khi nghiên cứu về hoạt động của màng tế bào thần kinh, đứng từ góc độ sinh học, người ta thấy hệ thần kinh trên toàn cơ thể liên kết chặt chẽ với nhau trên cơ sở tập hợp, tập hợp mạng của các cung phản xạ (cung phản xạ tủy, não tủy, não bộ). Động lực của sự vận động trong các cung phản xạ, là do sự phân cực - khử cực thường xuyên (do tương tác điện (+)(-)) của màng tế bào thần kinh. Tóm lại, màng tế bào thần kinh trong các cung phản xạ tủy, não tủy, não bộ luôn luôn phân cực - khử cực vì thế luôn luôn có dòng thần kinh vận chuyển trong các loại cung phản xạ đó (Tạp chí sinh học Vol 4, No2 (1992), tr. 81-90).

Bên cạnh hệ tuần hoàn khí là các cung phản xạ thần kinh của hệ thần kinh động vật, chúng tôi cho rằng còn hệ tuần hoàn khí hở, hay nửa hở là hệ thần kinh thực vật.

Cũng như giữa hệ huyết gồm hệ tuần hoàn với hệ bán tuần hoàn là hệ bạch huyết. Thường thì ta chỉ thấy hệ tuần hoàn máu, chỉ khi nào giữa hai hệ này mất sự cần bằng như tác bạch mạch do giun chỉ hoặc tổn thương hệ bạch mạch trong các phẫu thuật vét hạch do ung thư, viêm bạch mạch... Hệ thần kinh thực vật luôn tương tác với hệ thần kinh động vật, chỉ khi nào ngưỡng tương tác này mất sự cân bằng, ta mới thấy sự hoạt động của hệ này, ví như: tim đập nhanh do vận động mạnh hay bệnh lý cơ ruột co thắt, hen...

Vậy khí cũng gồm hai hệ tuần hoàn, một là tuần hoàn của hệ thần kinh động vật, hai là hệ tuần hoàn hở là hệ thần kinh thực vật.

Cũng trên cơ sở này chúng tôi cho rằng: “Khí là năng lượng sản sinh ra do sự tuần hoàn của hệ thần kinh đem tới”

Tương tác giữa khí và huyết

Tương tác giữa khí huyết của Tây y

Y học phương Tây không quan niệm khí một cách đầy đủ, tổng thể như y học phương Đông, nên không nêu thành nguyên lý của mối quan hệ này. Mặc dầu vậy, ở một khía cạnh nào đó, y học phương Tây đã thừa nhận mối quan hệ tương tác này, đó là: “Các phản xạ điều hòa vận mạch” khi nói đến phản ứng của hệ thần kinh tác động đến hệ mạch trong việc điều hòa máu. Nói cách khác là sự tương tác của hệ thần kinh với sự điều hòa huyết qua sự co dãn đẩy máu lưu thông trong hệ mạch.

Tương tác giữa khí huyết của Đông y

Y học phương Đông rất coi trọng mối quan hệ này và coi nó ngang tầm với mối quan hệ tương tác giữa khí âm và khí dương trong việc điều chỉnh sự cân bằng của cơ thể. Người ta có thể dùng kim châm cứu tác động từ ngoài lên cơ thể hoặc dùng thuốc tác động bên trong, để lập lại cân bằng khí huyết trong việc chữa trị bệnh.

Tóm lại người phương Đông coi nguyên nhân bệnh tật một cách tổng thể, nó là tác nhân làm mất cân bằng trong cơ thể và khi điều trị họ cũng đã tác động theo nguyên lý thổng thể đó, bằng sự điều hòa lập lại cân bằng khí huyết, cân bằng âm dương.

Tương tác giữa khí huyết dưới góc độ sinh học

Về mô học: Về mô học thì nơi nào có mạch máu thì tại đó cũng có tổ chức thần kinh tới. Những bó mạch máu lớn nhỏ bao giờ cũng cùng đi với dây thần kinh, chưa kể là trên các thành mạch đều có tế bào thần kinh. Ngược lại, trên các dây thần kinh cũng có các mạch máu đến nuôi dưỡng.

Về hoạt động của thần kinh mạch máu: Bất cứ một bộ phận nào, ví dụ: một cánh tay, nếu bị đứt dây thần kinh đến chi phối thì cánh tay đó bị liệt rồi teo đét, ngược lại nếu đứt mạch máu đến nuôi dưỡng thì cánh tay cũng sẽ chết nếu đó là mạch máu lớn và không có hệ tuần hoàn nối (Shunt).

Vài bệnh cảnh lâm sàng của khí huyết:

Cường hoặc thiểu năng khí: Thiểu năng khí trong liệt dây thần kinh VII do lạnh có tính chức năng hoặc cường khí trong hội chứng đau dây thần kinh tam thoa. Các bệnh này có thể điều trị bằng kích hoạt dây VII hoặc ức chế (giải tỏa) dây V có kết quả. Chúng ta đã biết mỗi cung phản xạ ít nhất gồm 3 nơron là 2 nơron chức năng được nối với 1 nơron liên hợp (không có chức năng cảm giác cũng như vận động). Các cung phản xạ trong cơ thể liên kết với nhau giữa cung phản xạ tủy não tủy và não bộ.

Khí sẽ không còn ở một bộ phận ví dụ như chi dưới bị đứt thần kinh hông khoeo, chi liệt và không còn hoạt động được, nói theo nghĩa khác là chi không còn sinh khí. Đối với toàn cơ thể thì võ não là trung khu điều hòa và phát động khí, khi vỏ não chết (điện não không còn có các sóng hoạt động) thì hiện nay người ta vẫn duy trì được hoạt động huyết để cơ thể sống hàng ngày đời sống thực vật, con người đó mất hẳn một vế là hoạt động của khí, cơ thể ấy sẽ không tồn tại được nữa.

Tóm lại, năng lượng của khí cần thiết cho hoạt động của từng bộ phận của toàn cơ thể con người. Khoa học hiện nay cũng chỉ có thể kéo dài hoạt động của huyết khi hoạt động của khí tắt. Ngược lại, khi tim đã ngừng thì chưa can thiệp kéo dài được hoạt động của khí.

Thiểu năng hoặc ưu năng huyết: thiểu năng tuần hoàn như trong co thắt mạch vành hoặc co thắt mạch chi trong viêm tắc mạch chi; cường hay ưu năng tuần hoàn trong phản xạ dãn mạch đưa máu đến vùng viêm trong hội chứng viêm: sưng, nóng, đỏ, đau.

Tóm lại, về tổ chức giải phẫu giữa mạch máu - thần kinh, sinh lý, bệnh lý, mối quan hệ về quan hệ năng lượng đã cho thấy mối quan hệ chặt chẽ hữu cơ giữa thần kinh và mạch máu. Nói cách khác là mối quan hệ hữu cơ khí huyết trong cơ thể con người.

Cơ sở sinh học của Thiền

Gạt bỏ phần triết lý thần học và đời sống thiền sư của đạo Phật sang một bên, thiền sinh học chỉ nghiên cứu cơ chế của quá trình ngồi luyện tập thiền định và tác dụng sinh học của nó. Nghiên cứu quá trình Thiền chúng ta thấy bao gồm 3 yếu tố:

Tập trung tư duy vào luyện tập:

Tập trung ở đây khác với tập trung tập luyện thể thao, tập võ đó là ức chế; theo nghĩa sinh học là ức chế toàn vỏ não (bao gồm các giác quan và hệ thần kinh động vật (ý thức) trên cơ sở giảm tần số pc-kc các tế bào thần kinh ở vỏ não, còn khi tập thể thao, là tập hưng phấn, tăng tần số pc-kc màng các tế bào thần kinh. Theo thiền Phật thì khi Thiền phải tập tủng tư duy vào luyện tập, gạt bỏ mọi ý nghĩ đó là “chánh niệm”.

Thư giãn cơ:

Tập trung điều khiển thư giãn cơ dần dần, chính việc thư giãn cơ đã tác dụng trở lại (Feed back) hệ thần kinh dưới vỏ. Theo Thiền Phật “xả lỏng”.

Điều hòa hô hấp:

Tập trung tư duy vào điều hòa hô hấp (thở vào phình bụng ra, thở ra thót bụng lại - kiểu thở bụng) chậm dần và nông dần đi đôi với thư giãn cơ (giảm tiêu thụ O2 khá lớn vì 40% trọng lượng cơ thể là cơ bắp). Bắt đầu từ hệ thần kinh động vật (ý thức) tác động đến toàn bộ cơ bắp làm giảm tiêu thụ O2 và cũng từ hệ thần kinh này tác động lên trung khu hô hấp (hệ thực vật). Tác động qua lại giữa hệ thần kinh động vật và thực vật đến thần kinh ngoại biên tới cơ rồi tác động trở lại (Feed back) toàn thể não bộ theo định luật phản hồi. Tác động qua lại giữa hệ thần kinh động thực vật ở mức độ luyện tập tốt có thể tác động ức chế lên mọi tế bào của cơ thể.

Người tập thiền tốt có thể thở 1-3 lần/phút, thở rất nông và kéo dài hàng giờ mà không hề rối loạn nội mô, SaO2 trong máu 98%, tim đập chậm đi, huyết áp bình thường và điện não với chùm sáng alpha đẹp báo hiệu một trạng thái yên tĩnh, nghỉ ngơi sâu của vỏ não.

Điều hòa khí huyết của Thiền

Như chúng ta đã biết, khi nhập thiền sâu ở trạng thái vô thức, trạng thái huyền ảo (Subler) nửa thức, nửa ngủ, lúc đó tuần hoàn ổn định ở mức các chỉ số giảm so với lúc nghỉ, hô hấp giảm với giảm tiêu thụ O2 đã nói lên Thiền tác động sâu sắc đến toàn cơ thể, có nghĩa là ở trạng thái cân bằng nội môi. Nói cách khác, đó là trình trạng cân bằng khí huyết, cân bằng giữa tuần hoàn hô hấp với hệ thần kinh.

Ta cũng biết khi Thiền, tương tác giữa hệ thần kinh động vật với hệ thần kinh thực vật là trung khu hô hấp (điều hòa nhịp thở); ở một số người, qua tập luyện, ngoài tương tác giữa hệ thần kinh động vật với hệ thần kinh thực vật là trung khu hô hấp, từ đó có thể tác động lên trung khu vận mạch, làm giãn mạch một số bộ phận cơ thể như làm nóng bàn tay, tác động lên nhân dây thần kinh X làm tăng nhu động ruột để đánh hơi liên tục theo ý muốn.

Tác dụng của Thiền

-                     Thiền có tác dụng cân bằng nội môi có nghĩa là cân bằng trao đổi chất giữa cơ thể với môi trường ở phạm vi vi mô tức là tới từng tế bào. Nói một cách khác, Thiền cân bằng cơ thể cân bằng khí huyết do đó có tác dụng phòng bệnh, nâng cao sức khỏe.

-                     Với vỏ não: Sớm cân bằng hoạt động các cung phản xạ não bộ (cân bằng sự phân cực - khử cực) toàn thể 52 vùng “Brodmann” tại vỏ não, vì thế có tác dụng chống mệt mỏi sau khi làm việc căng thẳng. Tránh được các cơn nhức đầu không nguyên cớ, chống: mất ngủ, ngủ không sâu, mộng mị, ác mộng...

-                     Thiền làm thư giãn cơ nên có tác dụng chống mỏi cơ sau khi lao động chân tay, với người già tránh được hiện tượng chuột rút (cân bằng khí huyết).

-                     Một số bệnh chức năng:

+ Thổn thức tim, ngoại tâm thu, cao huyết áp mà không có nguyên cớ thì Thiền giúp tim nghỉ ngơi không phải gắng sức nên điều chỉnh được hệ thần kinh tim.

+ Loét miệng, chảy máu miệng, tái phát đi tái phát lại không nguyên cớ.

+ Táo bón, ăn kém ngon miệng.

+ Tránh đau lưng, mỏi lưng với người già.

+ Giảm các cơn hen và dần dần có thể hết hen

-                     Thiền làm giảm tiêu hao năng lượng, cân bằng thể chất (cân bằng khi huyết ở mức thấp) giúp cơ thể cân bằng thể chất và hoạt động thần kinh giúp con người tự cân bằng nội tại và cân bằng với môi trường vật chất cũng như môi trường xã hội, chống được stress. Đó là cơ sở cho sức khỏe và vui vẻ trong cuộc sống, không hay gặp các tai biến và khi về già dễ ra đi một cách nhẹ nhàng, thanh thản.

Kết luận

 

Thiền theo một định nghĩa thông dụng là một trạng thái thư giãn chủ động, tích cực, có hiệu quả cao nhất do luyện tập. Kết quả của Thiền làm cơ thể ở trạng thái tiêu hao năng lượng thấp nhất, ở trạng thái này cơ thể lấy lại cân bằng nội môi, đó cũng là điều kiện thuận lợi để cân bằng tuần hoàn năng lượng, cân bằng khí huyết. Ở một số cá nhân, cá thể, qua tập luyện có thể tạo được tương tác theo ý muốn giữa hệ thần kinh động vật với thực vật, điều hòa điều khiển một số trung khu tự động khác ngoài trung khu hô hấp.

Tóm lại “Thiền định” làm cơ thể cân bằng nội ngoại môi ở mức năng lượng thấp trên cơ sở cân bằng khí huyết* ở mức độ năng lượng thấp.

 

 
Trung tâm Thông tin Khoa học Công nghệ Quốc gia