Hành động trước tình trạng khí hậu nóng lên |
||
| Dạng tài liệu | : | Bài trích bản tin |
| Ngôn ngữ tài liệu | : | vie |
| Tên nguồn trích | : | Khoa học Công nghệ Môi trường |
| Dữ liệu nguồn trích | : | 2005/Số 7/Dự báo - chiến lược - chính sách |
| Đề mục | : | 37.23 Khí hậu học |
| Từ khoá | : | khí hậu nóng lên ; khí nhà kính |
| Nội dung: | ||
|
Kể từ khi nhiệt độ bắt đầu được ghi chép theo dõi, người ta nhận thấy mấy thập niên vừa qua là thời kỳ nóng nhất. Hầu như toàn thế giới nay đã đi tới nhất trí là phải hành động trước tình trạng này. Ngay cả khi các chính phủ còn chưa sẵn sàng đưa ra các biện pháp thì các doanh nghiệp đã bắt tay vào việc. Cuộc đấu tranh chống lại khí hậu nóng lên không những tạo ra thị trường cho các sản phẩm mới mà còn tiết kiệm chi phí. Các biện pháp có lợi nhiều mặt Từ tháng 1/2005, Liên minh châu Âu (EU) đã đưa ra các mức trần bắt buộc đối với đioxit cacbon (CO2) và các loại khí khác gây hiệu ứng nhà kính. Kèm theo đó cũng hình thành thị trường mua và bán giấy phép thải khí CO2. Còn với người Nga thì cuối năm 2004, Nghị định thư Kyoto cũng được phê chuẩn. Có một số nước còn đi xa hơn. Nước Anh đã cam kết triệt để giảm phát tán khí thải, từ nay đến năm 2050 tới mức 60%. Ông Cố vấn khoa học của Thủ tướng Anh cho là không thể chần chừ được nữa. Tất nhiên có nước chống lại việc làm này. Chính phủ Mỹ thì khăng khăng bác bỏ Nghị định thư Kyoto và các hạn chế bắt buộc vì cho là nó phương hại tới nền kinh tế. Họ cho là nên triển khai các công nghệ mới thải ít khí cacbonic để giải quyết vấn đề khi nó xảy ra. Đó là ý kiến của Bộ trưởng Năng lượng Mỹ. Kèm theo đó có một số rất ít các nhà khoa học đồng tình. Nhìn chung thì đã có sự đồng thuận cao giữa các Chính phủ và các nhà khoa học. Mọi người đều thống nhất là phải làm ngay việc gì đó. Trái đất đang nóng lên, do chính con người gây ra, không phải bàn cãi nữa. Chỉ có điều còn chưa nhất trí là quy mô của nó. Biện pháp để giảm phát tán khí gây hiệu ứng nhà kính là giảm đốt nhiên liệu hóa thạch, sản xuất xe ô tô và xây dựng các nhà máy hiệu quả hơn về mặt năng lượng, sử dụng các nguồn năng lượng thay thế chắc chắn sẽ cho phép làm cho nước Mỹ và thế giới bớt phụ thuộc vào dầu mỏ. Đã có nhiều doanh nghiệp giảm được khí thải cho thấy họ còn tiết kiệm được rất nhiều và việc triển khai công nghệ mới lại càng gia tăng. Điều này cắt nghĩa tại sao lại có sự hâm mộ trong việc giành giật vị trí dẫn đầu mà nước Mỹ rời bỏ nó. Khác với chính phủ liên bang, các tiểu bang và các doanh nghiệp Mỹ vẫn theo đuổi hướng tích cực. Đề phòng lũ lụt ở miền duyên hải, phá hoại các ngành công nghiệp, bang Massachusetts đã có kế hoạch giảm bớt 10% khí phát tán trước năm 2020. Tiếp đến, bang California đã đề xuất giảm bớt 30% khí phát tán do ô tô gây ra trước năm 2015. Nhiều bang khác cũng tính đến các hành động tương tự. Hạn chế khí CO2 Có một thực tế đáng chú ý là các doanh nghiệp của Mỹ lại đi trước Chính phủ. Một số tổng giám đốc đã đưa ra các biện pháp quả là khó nghĩ tới trước đây. Tổng giám đốc, Exelon, John W. Rowe phát biểu: “Chúng tôi cho là các thông tin khoa học về tình trạng khí hậu nóng lên đã rõ ràng, không thể chối cãi". Vì thế cần phải tính đến việc hạn chế bắt buộc khí CO2? Công ty này đang thu lợi với tư cách doanh nghiệp khai thác các nhà máy điện hạt nhân. Nhiều doanh nghiệp khác cũng đang chuẩn bị cho tương lai. Electric Power Co. trước đây đã từng chống lại tư tưởng đấu tranh chống lại thay đổi khí hậu thì nay lại đang chuẩn bị có những hạn chế thay vì khước từ trước tình trạng khí hậu nóng lên. Dupont cũng đã giảm phát tán khí gây hiệu ứng nhà kính từ năm 1990 tiết kiệm hàng trăm triệu đô la trong quá trình này. Các công ty khác như Alcoa, General Electric, General Motors đều có các biện pháp của mình. General Motors hiện đang chi hàng trăm triệu đôla để thiết kế các ô tô chạy bằng khí hydro. Exelon cho rằng nhu cầu năng lượng không phát tán khí CO2 có thể là một liều kích thích đối với việc xây dựng các lò phản ứng hạt nhân hiện đại, sản ra điện mà lại không phát tán khí gây hiệu ứng nhà kính. Đối với các doanh nghiệp nói trên thì khí hậu nóng lên vừa là mối đe dọa, vừa là thị trường. Có thể nói thế giới đã chuẩn bị cho khí hậu tăng lên. Người ta đã đạt được sự đồng thuận về sự cần thiết phải có các chính sách khuyến khích đổi mới và đương đầu với khí hậu nóng lên. Tư tưởng cơ bản là: giảm bắt buộc hay đánh thuế phát tán khí CO2 kết hợp cùng chương trình phát tán khí này trên toàn thế giới. Vai trò của các nước công nghiệp Điều may mắn là toàn thế giới đã ý thức được mối đe dọa và đang bắt đầu hành động, nhưng cái chưa vui là quy mô hành động chưa được như mong muốn. Mức CO2 đang tăng lên trong khí quyển chỉ có thể giảm xuống nếu như một số nước - hay thậm chí tất cả các nước công nghiệp - có biện pháp. Thế giới cũng phải tìm cách để Trung Quốc, Ấn Độ và các nước đang phát triển khác tăng trưởng đi đôi với việc giảm tiêu thụ than, dầu mỏ và các nhiên liệu hóa thạch khác. Các nước đang phát triển cũng phải chịu trách nhiệm 1/3 khí khải gây hiệu ứng nhà kính trên thế giới, tất nhiên tính theo đầu người, trách nhiệm của các nước này sẽ dần tăng lên khi các công dân của họ mua nhiều ô tô hơn, tiêu thụ nhiều năng lượng hơn. Theo dự báo của các chuyên gia, vào năm 2100 các nước này sẽ thải ra khí gây hiệu ứng nhà kính gấp 2, thậm chí gấp 3 lần thế giới phát triển. Đây cũng chính là lý do mà Chính phủ và Quốc hội Mỹ dựa vào để bác bỏ Nghị định thư Kyoto, một nghị định không đề cập đến các nước đang phát triển. Song các nhà thương lượng quốc tế đang bắt đầu nói đến một kế hoạch vượt ra ngoài Kyoto. Bước đầu tiên cho thấy thế giới công nghiệp hóa tính đến chuyện khai thông một cách nghiêm túc. Cụ thể là nước Anh cam kết giảm bớt khí thải xuống mức còn 60%. Họ cũng biết riêng mình không thể giải quyết được vấn đề của thế giới nhưng cam kết là một việc làm tốt, như Bộ trưởng năng lượng nước này khẳng định. Điều đó tránh cho nước Anh không phụ thuộc hoàn toàn vào dầu mỏ nước ngoài khi các vỉa dầu ở biển Bắc đang bắt đầu vơi cạn. Bước thứ hai là giúp các nước đang phát triển lựa chọn các công nghệ mới. Trung Quốc và các quốc gia khác có thể tránh được một số vấn đề của phương Tây khi vận hành các nhà máy than sạch và ô tô ít gây ô nhiễm. Vấn đề là phải khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào công nghệ tiên tiến ở các nước đang phát triển. Nhưng cho dù các nước đang phát triển có thể khắc phục được sự chậm trễ thì vẫn phải giảm thiểu một cách chặt chẽ. Trong vòng 45 vạn năm vừa qua, số lượng CO2 trong khí quyển giữ ở mức dưới 290 ppm (phần triệu). Nhưng rồi thế giới đã thải ra hơn 7 tỷ tấn khí CO2/năm cùng các khí gây hiệu ứng nhà kính khác. Hậu quả là mức CO2 trong không khí tăng lên 370ppm. Nếu không can thiệp thì trước cuối thế kỷ này, con số đó sẽ lên tới 800 thậm chí 1000ppm. Trong vòng 100 năm vừa qua, nhiệt độ thế giới đã tăng lên 0,6oC và các thập niên vừa qua là thời gian nóng nhất, tính từ khi con người biết đo nhiệt độ. Điều đó làm thay đổi bộ mặt hành tinh. Chẳng hạn Sông Băng Qori Kalis ở Pêru hàng năm bị mòn đi 200 mét, tăng gấp 4 lần so với năm 1978. Băng đang mất dần ở Bắc cực và đảo Greenland (thuộc Đan Mạch) đến mức hơn 100 loại động vật phải di cư đến nơi lạnh hơn. Mùa xuân đến sớm hơn. Việc tranh cãi về khí hậu nóng lên hiện nay không còn mang tính khoa học nữa mà là đề ra các biện pháp để chuẩn bị hoặc ngăn chặn sự thay đổi từ bây giờ hay chờ đợi và chịu đựng nếu nó xảy ra. Những người chống lại đòi hỏi giảm khí gây hiệu ứng nhà kính cho là chúng ta phải thích ứng với một thế giới nóng lên hoặc lạnh di. Thế ra việc sợ hãi có phần thái quá. Đúng là con người có thể thích nghi nhưng tại sao với các biện pháp không có gì tốn kém mà chúng ta lại không ra tay ngay từ bây giờ? Một cuộc điều tra của Chính phủ Anh cho thấy chi phí của họ cho việc tham gia giảm mức CO2 xuống còn 550ppm chắc chỉ tốn 1% GDP của nước này. Ta hãy so với mức thiệt hại của một trận lut do sông Tamaise gây ra khoảng 30 tỷ bảng Anh, tức 2% GDP hiện nay. Khi những người đứng đầu các doanh nghiệp suy ngẫm về khí hậu nóng lên, họ đều đối mặt với một hiện tượng đáng sợ: sự bấp bênh. Nếu như các trận lụt diễn ra đều đặn cứ 20 năm một lần ở một thành phố thì có thể đánh cuộc là trong tương lai, xu hướng đó sẽ lặp lại. Tuy nhiên, hiện tượng khí hậu nóng lên làm vô hiệu tất cả các nghiên cứu để đối phó với tình trạng khí hậu cực đoan. Với các tiến bộ đạt được, nhiều nhà khoa học tự hỏi tại sao thế giới - và nhất là nước Mỹ, lại không hành động nhanh hơn để giảm thiểu rủi ro do khí hậu nóng lên gây ra. Nguyễn Nhật Long (Theo Problems Economiques, Novembre 2004) |
||
