Tìm kiếm nâng cao

Số truy cập:

Phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai

  
Dạng tài liệu : Bài trích bản tin
Ngôn ngữ tài liệu : vie
Tác giả : Trung Đức
Tên nguồn trích : Khoa học Công nghệ Môi trường
Dữ liệu nguồn trích : 2005/Số 7/Dự báo - chiến lược - chính sách
Đề mục : 37 Ðịa vật lý
37.23 Khí hậu học
Từ khoá : phòng tránh thiên tai hạn hán lụt lội
Từ khoá phụ : Viện Địa lý
Nội dung:

Thành công từ phương châm “Gắn nghiên cứu khoa học công nghệ với thực tiễn”

Thời gian qua, đất nước ta đã phải gánh chịu nhiều tai biến, thiên tai như lũ lụt, hạn hán, xói mòn, trượt lở đất, trào dâng nước biển, gia tăng nhiệt độ, hiệu ứng nhà kính....đồng thời với những suy thoái tài nguyên, hoang mạc hoá do ảnh hưởng của hoạt động sản xuất, phát triển thiếu quy hoạch ở nhiều vùng lãnh thổ. Với một tập thể giàu kinh nghiệm, các nhà khoa học của viện Địa lý thuộc Viện KH&CN Việt Nam đã vượt qua nhiều khó khăn, thách thức để tiến hành những nội dung điều tra cơ bản và nghiên cứu ứng dụng công nghệ nhằm tạo lập cơ sở khoa học và đề xuất các giải pháp phòng tránh, giảm nhẹ thiên tai. Những kết quả nghiên cứu được vận dụng trong đời sống xã hội là những đóng góp thiết thực của các nhà khoa học vào ổn định đời sống nhân dân, góp phần không nhỏ để bảo vệ môi trường và phát triển bền vững KT-XH ở nhiều vùng đất nước. Trong một thông điệp gần đây, GS Nguyễn Văn Cư cho biết: 10 năm qua, trong thực hiện các chương trình, dự án quốc gia và nhiều đề tài nghiên cứu, các nhà khoa học của Viện Địa lý đã coi trọng việc phối hợp và phối hợp có hiệu quả với nhiều địa phương, cơ sở nên kết quả điều tra, nghiên cứu tạo ra đã được vận dụng ngay vào thực tiễn sản xuất và đời sống.

Tại vùng ven biển, trên các cửa sông  đề án và những đề tài do các nhà nghiên cứu Đỗ Xuân Sâm, Đào Đình Châm,... thực hiện đã làm rõ được nguyên nhân bồi-xói, sự thay đổi các dòng dẫn, diễn biến luồng lạch, biến đổi địa hình đáy... Từ đó, đề xuất các biện pháp hạn chế, khắc phục bồi lắng, khai thông luồng tàu vào cảng được nhiều địa phương và ngành giao thông vận dụng mang lại hiệu quả kinh tế-xã hội cao. 

Từ phân tích lũ lụt ở những khu vực thường gặp thiên tai tại các tỉnh miền Trung, nhà khoa học Nguyễn Lập Đản và cộng sự đã xác định được nguyên nhân, diễn biến của các quá trình để dự báo khả năng và đề xuất giải pháp chủ động phòng ngừa, giảm thiểu thiệt hại. Nhờ đánh giá đúng các yếu tố tác động nội, ngoại sinh và hoạt động của con người  trong sự hình thành lũ lụt trên lưu vực các sông lớn như Thạch Hãn, sông Hương, Thu bồn, Trà Khúc, sông Ba... các nhà nghiên cứu đã xây dựng được mô hình dự báo lũ lụt, đề xuất giải pháp sử dụng bền vững đất đai theo từng lưu vực và chuyển đổi cơ cấu kinh tế, di đân phù hợp với điều kiện thiên tai, lũ lụt của tùng khu vực.

Hoang mạc hoá nhiều vùng đất ở nam Trung bộ gần đây trở nên bức xúc. Thành công của các nhà nghiên cứu là đã làm rõ nguyên nhân tự nhiên và những tác động bất lợi của con người, đã dự báo được diễn thể của quá trình hoang mạc ở Ninh Thuận, Bình Thuận... Qua đó, đề xuất những giải pháp KH&CN ngăn chặn bằng chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi; phủ xanh đất trống đồi trọc, cải tạo, bảo vệ đất; tưới tiêu, bảo vệ hợp lý nguồn nước. Đặc biệt đã xây dựng thành công một số mô hình kinh tế-sinh thái-môi trường ở khu vực bị hoang mạc hoá nặng để người dân có thể học hỏi làm theo.

Cùng với hạn hán, lũ lụt, sụt lở, sói mòn; động đất và thiên tai giông sét đang là nguy cơ tiềm ẩn đối với việc xây dựng các công trình và trong đời sống dân cư của các vùng lãnh thổ. Nhà nghiên cứu Nguyễn Ngọc Thuỷ, Nguyễn đình Xuyên, Cao Minh Triều và những cộng tác viên thuộc nhiều tổ chức đã có những phân vùng chi tiết động đất ở các tỉnh như Sơn La, Bình Thuận, Phú Yên, Quảng Nam... Các phân vùng này đã tạo cơ sở quan trọng để thiết kế xây dựng các công trình thuỷ điện ở nhiều địa phương. Đối với thiên tai giông sét, kết quả nghiên cứu cũng đã làm rõ được quy luật hoạt động, đặc điểm phân bố và hình thành được bản đồ về thiên tai giông sét trên toàn lãnh thổ Việt Nam.

Với phương châm “ Khoa học công nghệ gắn với thực tiễn”, nội dung nghiên cứu của các nhà khoa học trong Viện Địa lý thường xuất phát từ nhu cầu thực tế, có sự phối hợp chặt chẽ với nhiều địa phương và cơ sở. Công trình chống xói mòn và thoái hoá đất đã đề xuất được nhiều giải pháp có hiệu quả trong bảo vệ môi trường và tài nguyên đất đai trên nhiều vùng ở Tây Bắc, Đông Bắc, Bắc Trung Bộ và Đông Nam Bộ. Trong phạm vi môi trường, nghiên cứu ảnh hưởng và đấnh giá tác động của vấn đề này đã kết hợp được gần 20 tỉnh ,thành phố để làm rõ được nhiều hiện tượng cần nghiên cứu trong quá trình đô thị hoá, công nghiệp hoá và phát triển KT-XH đang diễn ra sôi động. Qua đó đã đánh giá được tác động môi trường tiền khả thi và khả thi cho nhiều công trình dự án của bộ Công nghiệp, đề xuất những giải pháp phòng chống ô nhiễm cho hệ thống sông ngòi và các khu công nghiệp tập trung; đặc biệt đã xây dựng được bản đồ phân vùng các đơn vị chức năng bảo vệ môi trường cho vùng đồng bằng sông Hồng và dự báo được những vấn đề gây cấn làm cơ sở để xây dựng quy hoạch môi trường phục vụ phát triển KT-XH. Những kết quả nghiên cứu tạo ra còn giúp Nhà nước và nhiều địa phương có cơ sở khoa học và thực tiễn đủ tin cậy để định ra quy hoạch và giải pháp quản lý môi trường trong phát triển bền vững.

Đánh giá những thành tựu nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ của viện Địa lý gần đây, Giáo sư Nguyễn Văn Cư và Phạm Hoàng Hải cho rằng, các nhiệm vụ quan trọng liên quan đến cơ sở khoa học đã được đề xuất và thực hiện tốt trong đời sống xã hội. Những kết quả nghiên cứu đạt được đã góp phần ổn định đời sống nhân dân, phục vụ có kết quả trong phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai ở mọi miền đất nước. Tuy nhiên, để phát triển bền vững đất nước thì tại các vùng lãnh thổ đang còn nhiều việc phải làm, nhiều nhiệm vụ cụ thể cần phải có sự phối hợp thực hiện của nhiều cơ quan khoa học, tổ chức quản lý và các doanh nghiệp cả ở Trung ương và tại các địa phương.

Từ góc độ được nhìn nhận với khả năng đống góp của các nhà khoa học trong các Viện khoa học về trái đất, các nhà nghiên cứu nhận thấy cần tập trung để: Hoàn thiện việc nghiên cứu cảnh báo và phân vùng dự báo các vùng thiên tai thường gặp về lũ lụt, hạn hán ở ven biển và các lưu vực sông; sạt lở đất, lũ quét, lũ bùn đá ở vùng núi, trung du, bờ sông, bờ biển; Điều tra phát hiện và đề xuất những giải pháp bảo vệ, khắc phục sa lắng trên các hồ chứa nước, đánh giá tác động của các công trình hồ chứa đến môi trường sinh thái để có giải pháp phát huy mặt tốt và khắc phục được những vấn đề đang còn hạn chế. Một trong những nội dung cấp bách đặt ra cần làm là nghiên cứu các công nghệ cảnh báo và những giải pháp thích hợp để phòng tránh cháy rừng.

Với những thành công đạt được trong nghiên cứu theo hướng phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai, từ những kinh nghiệm rút ra, để đưa nhanh được kết quả nghiên cứu vào phục vụ phát triển kinh tế và đời sống xã hội, nhiều nhà khoa học cho rằng cần tiến hành những hoạt động khoa học trên cơ sở xây dựng các mô hình cảnh báo, chuyển giao các kết quả nghiên cứu kịp thời để ứng dụng vào thực tiễn sản xuất và đời sống.

Trung Đức

 
Trung tâm Thông tin Khoa học Công nghệ Quốc gia