Doanh nghiệp khoa học và công nghệ |
||
| Dạng tài liệu | : | Bài trích bản tin |
| Ngôn ngữ tài liệu | : | vie |
| Tác giả | : | Lê Nguyễn |
| Tên nguồn trích | : | Khoa học Công nghệ Môi trường |
| Dữ liệu nguồn trích | : | 2005/Số 7/Dự báo - chiến lược - chính sách |
| Đề mục | : | 06.81 Kinh tế và tổ chức quản lý doanh nghiệp |
| Từ khoá | : | doanh nghiệp KHCN ; spin-off ; start-up ; incubator |
| Nội dung: | ||
|
Nhằm khắc phục hạn chế giữa nghiên cứu triển khai của các tổ chức khoa học với phát triển công nghệ ở các doanh nghiệp, hình thành doanh nghiệp KHCN là nội dung đã được thảo luận nhiều trong nghiên cứu chuyển đổi các tổ chức nghiên cứu và phát triển (NCPT). Doanh nghiệp KHCN-xu thế phát triển trong cạnh tranh hội nhập Khái niệm doanh nghiệp KHCN được các nhà nghiên cứu đề xuất là doanh nghiệp được hình thành trên cơ sở tăng cường khai thác, sử dụng kết quả nghiên cứu KHCN mới được tạo ra trong các tổ chức nghiên cứu, trường đại học hoặc bởi những cá nhân, tập thể khoa học công nghệ và sáng chế. Trong nền kinh tế toàn cầu với những đổi thay vũ bão của cách mạng KHCN, quá trình phát triển và đổi mới công nghệ ngày càng khẳng định sự cần thiết phải tăng cường năng lực đổi mới trong từng doanh nghiệp. Thông thường, chuyển giao công nghệ từ khu vực nghiên cứu sang sản xuất công nghiệp bao gồm những đổi mới trong thiết kế, chế tạo được tiến hành đồng thời với hoạt động tiếp thị, đưa sản phẩm mới ra thị trường. Nhìn chung, quá trình này phụ thuộc vào năng lực học hỏi và khả năng tích luỹ của nơi tiếp nhận và thách thức lớn nhất là năng lực làm chủ công nghệ đối với các cơ sở tiếp thu. Nếu các tổ chức NCPT chỉ tiến hành hoạt động nghiên cứu và cơ sở sản xuất chỉ tiến hành sản xuất kinh doanh thì khả năng liên kết giữa 2 khu vực có nhiều giới hạn. Đây có thể là trở ngại chủ yếu ở nước ta, khi mà hầu hết các hoạt động nghiên cứu công nghệvà triển khai thực nghiệm đang diễn ra ở các cơ quan nghiên cứu nằm ngoài khu vực sản xuất. Lịch sử phát triển công nghệ cho thấy, quá trình chuyển hoạt động NCPT khu vực hàn lâm sang sản xuất đã tạo cho doanh nghiệp công nghiệp có sự phát triển nhảy vọt ở các nước công nghiệp mới (NICs). Trong vòng 10 năm từ cuối thập kỷ 1970, việc điều chỉnh cấu trúc nghiên cứu đã giúp Hàn Quốc giảm số nhiệm vụ NCPT trong các viện nghiên cứu hàn lâm từ 80% xuống còn 20%. Những nhiệm vụ NCPT tiến hành tại doanh nghiệp đã gia tăng nhanh nhu cầu đặt hàng của khu vực sản xuất với khu vực nghiên cứu và quan trọng là năng lực tiếp thu, thích ứng kết quả nghiên cứu để mở rộng sản xuất của doanh nghiệp tăng nhanh. Nhằm khuyến khích người nghiên cứu biến ý tưởng khoa học thành sản phẩm, sản xuất và thương mại hoá được những kết quả này, cuối thập kỷ 1980, Chính phủ Hoa Kỳ đã có Chương trình nghiên cứu đổi mới (SBIR) và Hỗ trợ chuyển giao công nghệ (SBTT) hướng vào các doanh nghiệp nhỏ. Thông qua những chương trình này, nhiều mô hình doanh nghiệp KHCN dưới dạng Start-up (khởi nghiệp), Spin-off (thừa kế) và Incubator (ươm tạo) đã được hình thành. Doanh nghiệp Start-up là những doanh nghiệp nhỏ thuộc khối nghiên cứu hàn lâm (viện, trường), thường là những công ty có tư cách pháp nhân độc lập, nhận tài trợ từ Chính phủ qua các chương trình SBIR, SBTT hoặc các tổ chức phi chính phủ, tư nhân. Doanh nghiệp spin-off là một dạng công ty mẹ-công ty con. Công ty con được tách ra từ mẹ để triển khai một kết quả nghiên cứu mới, nhưng vẫn chịu sự điều hành, chi phối của công ty mẹ. Mô hình này cũng được áp dụng để kết nối mối liên hệ giữa các công ty và tổ chức thuộc khối nghiên cứu hàn lâm. Incubator là doanh nghiệp trong khu vực nghiên cứu hàn lâm. Ở đây, các nhà khoa học tạo ra những sản phẩm có khả năng mang lại lợi nhuận cao nếu có điều kiện hoàn thiện. Trong doanh nghiệp Incubator, tổ chức nghiên cứu tiếp tục hỗ trợ về tài chính và điều kiện thực hiện cho đến khi sản phẩm hoàn chỉnh, đủ sức hấp dẫn đối với doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trong thị trường. Trong một cuộc trao đổi gần đây, Giáo sư Võ Tấn Tới, một trí thức Việt kiều đang làm việc tại Đại học Tufft Hoa Kỳ cho rằng: Mô hình doanh nghiệp KHCN vừa và nhỏ kiểu Hoa kỳ có ý nghĩa thực tiễn và mang lại lợi nhuận cao. Theo ông, nếu Việt Nam sớm phát triển các hình thức doanh nghiệp dạng này thì khả năng đóng góp của hệ thống KHCN vào GDP của đất nước sẽ tăng nhanh. Doanh nghiệp KHCN nước ta, sự hình thành và những hoạt động thực tiễn Trong chu trình nghiên cứu-sản xuất và thị trường, sản xuất kinh doanh là khâu quan trọng để tăng cường liên kết khoa học và đẩy nhanh việc áp dụng thành tựu KHCN vào thực tế sản xuất và đời sống. Hoạt động sản xuất kinh doanh trong các tổ chức NCPT không chỉ thuần tuý bù đắp kinh phí ngân sách hạn hẹp mà quan trọng đó là biện pháp hợp thành để gắn nghiên cứu với sản xuất. Do đặc thù trong tổ chức nghiên cứu, doanh nghiệp KHCN ở nước ta phổ biến được hình thành theo Nghị định 35 HĐBT ngày 28/1/1992 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ). Từ tầm quan trọng trong hoạt động KHCN, Nghị quyết TW2 khoá VIII đã khẳng định “...Các viện nghiên cứu được thành lập các cơ sở sản xuất kinh doanh, các trung tâm ứng dụng, tư vấn và chuyển giao công nghệ thuộc các lĩnh vực chuyên môn mà viện đảm nhận, được phép liên doanh với nước ngoài theo quy định của Nhà nước..”. Trên tinh thần này, ngày 27 tháng 3 năm 1998, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 68 cho phép thí điểm thành lập doanh nghiệp nhà nước trong các cơ sở nghiên cứu, đào tạo. Tuỳ thuộc vào vị trí hoạt động và lợi thế quan hệ, hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh trong các tổ chức KHCN ở nước ta đã xuất hiện khá đa dạng. Ở các viện NCPT công nghệ, quá trình chuyển giao kết quả nghiên cứu vào sản xuất thường làm trọn gói trong các mô hình cơ sở thường gồm 3 bộ phận: nghiên cứu, quản lý - hỗ trợ - điều phối và sản xuất. Theo đó, viện nghiên cứu được coi là một tác nhân xã hội, chịu tác động của môi trường KT-XH và sự điều phối của Nhà nước thông qua hệ thống chính sách. Bộ phận sản xuất hoạt động theo các loại hình: doanh nghiệp có tư cách pháp nhân; doanh nghiệp “ươm tạo” thực hiện chức năng sản xuất kinh doanh như khu thực nghiệm và những doanh nghiệp vệ tinh dưới hình thức liên kết, liên doanh hoặc liên danh sản xuất những sản phẩm là kết quả nghiên cứu. Doanh nghiệp KHCN có tư cách pháp nhân thường đặt trực tiếp trong các cơ quan NCPT thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh từ kết quả do bộ phận nghiên cứu tạo ra. ở loại hình này, việc chuyển đổi trong tổ chức nghiên cứu không chỉ là chuyển giao công nghệ mà là chuyển giao một phần tổ chức bao gồm cả con người, mối quan hệ hợp tác, phương pháp giao tiếp và quy trình công việc... từ môi trường thể chế cũ sang môi trường mới, gắn với sản xuất kinh doanh và hoạt động thị trường. Trong bối cảnh mới, quá trình tạo ra sản phẩm và hoàn thiện công nghệ, doanh nghiệp được bổ sung về tài chính, kỹ năng, thiết bị... từ nhiều nguồn để gia tăng sản phẩm. Tuy nhiên, doanh nghiệp cũng dễ bị tổn thương do biến động sản xuất và những yếu tố bất định trên thị trường. Từ sau Nghị định 10 ngày 16/1/2002 của Thủ tướng Chính phủ, đơn vị NCPT Nhà nước được hiểu là đơn vị sự nghiệp có thu, có quyền tổ chức các đơn vị sản xuất trực thuộc được phép kinh doanh, có mã số thuế... hoặc thông qua hợp đồng, liên kết, liên doanh sử dụng tư cách pháp nhân của các đơn vị hợp tác để tổ chức sản xuất kinh doanh cùng chia lợi nhuận. Doanh nghiệp dưới dạng “ươm tạo”, thực hiện chức năng sản xuất kinh doanh như khu vực thực nghiệm trong cơ sở nghiên cứu. Muốn vào được khu vực này, nhà khoa học phải có dự án được thẩm định. Để vượt qua rào cản pháp lý kinh doanh, chủ dự án phải tìm được đối tác liên doanh có tư cách pháp nhân kinh tế. ở đây, chức năng sản xuất và kinh doanh được phân định rõ; chủ dự án thực hiện chức năng sản xuất, còn đối tác liên doanh thực hiện việc kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm. Với cách làm này, Viện Vật liệu thuộc Viện Khoa học Công nghệ Việt Nam đã có nhiều thành công để đưa kết quả nghiên cứu vào sản xuất và quan trọng là có được bản quyền tương xứng với lợi ích tạo ra. Loại hình doanh nghiệp KHCN vệ tinh dưới hình thức liên doanh, liên kết hoặc liên danh sản xuất sản phẩm là kết quả nghiên cứu ra đời từ sự gặp gỡ của nhu cầu doanh nghiệp sản xuất kinh doanh muốn tận dụng cơ hội, thương hiệu và bí quyết công nghệ của cơ quan nghiên cứu để mở rộng thị trường với mong muốn thương mại hoá kết quả nghiên cứu của các tổ chức KHCN không có tư cách pháp nhân sản xuất kinh doanh. Trong hình thức này, doanh nghiệp vệ tinh có vai trò như một pháp nhân sản xuất kinh doanh đầy đủ, doanh nghiệp là nơi áp dụng kết quả nghiên cứu và những bí quyết công nghệ tạo ra của tổ chức khoa học. Với hình thức này, tập thể tác giả nghiên cứu đã tiến hành thương mại hoá có kết quả những sản phẩm sáng tạo của mình, đã tạo được những thuận lợi để đưa nhanh kết quả nghiên cứu vào sản xuất. Một số vấn đề trao đổi. Thực tế hình thành và phát triển loại hình doanh nghiệp KHCN ở nước ta cho thấy: trước những khó khăn phải đối mặt trong hoạt động nghiên cứu, sự ra đời các doanh nghiệp KHCN dưới nhiều hình thức đã góp phần tích cực vào gắn nghiên cứu với sản xuất, đưa nhanh kết quả nghiên cứu vào cuộc sống. Thành công của nhiều tổ chức sản xuất kinh doanh, làm dịch vụ trực thuộc cơ quan NCPT đã làm rõ, đây không chỉ là giải pháp tình thế mà quan trọng là từ đó đã gợi ra nhiều vấn đề cơ bản để hoàn thiện hệ thống tổ chức KHCN theo hướng gắn nghiên cứu với sản xuất và đào tạo. Sự hình thành và phát triển doanh nghiệp KHCN chịu sự chi phối của hệ thống luật pháp. Theo luật doanh nghiệp ban hành ngày 6 tháng 12 năm 1999 thì “... các tổ chức Nhà nước dùng tài sản của nhà nước và công quỹ, cán bộ, công nhân viên chức nhà nước không được phép thành lập doanh nghiệp, góp vốn vào doanh nghiệp...”. Có thể từ quy định này, từ năm 2001, các tổ chức khoa học đã không tiếp tục thành lập DNNN theo Quyết định 68TTg. Để các tổ chức NCPT Nhà nước có cơ sở pháp lý cho hành vi sản xuất kinh doanh bên trong tổ chức, ngày 16/1/2002, Chính phủ ban hành nghị định số 10, công nhận khái niệm đơn vị hành chính sự nghiệp có thu. Phân tích từ khía cạnh pháp luật hiện hành thì loại hình doanh nghiệp KHCN Nhà nước (hay đơn vị SXKD trong các tổ chức NCPT Nhà nước) chỉ có thể là Công ty 100% vốn Nhà nước; Công ty cổ phần, Công ty trách nhiệm hữu hạn 100% vốn Nhà nước hoặc Nhà nước giữ 50% vốn điều lệ. Ngoài ra, có thể hợp tác với những tổ chức sản xuất kinh doanh để hình thành tổ hợp sản xuất kinh doanh hoặc tổ chức thành những đơn vị sự nghiệp có thu trong các cơ quan NCPT. Trong các hình thức này, đơn vị sự nghiệp có thu, tuân thủ việc quản lý theo hành vi hoạt động có thể là hình thức thích hợp ở giai đoạn đầu. Tuy nhiên, mô hình này lại có những khó khăn về khấu hao trong định giá sản phẩm và thủ tục đăng ký kinh doanh. Tổ chức sản xuất kinh doanh trong các tổ chức KHCN dưới hình thức doanh nghiệp KHCN là giải pháp cơ bản để hoàn thiện hệ thống KHCN nước nhà trong cạnh tranh hội nhập. Tổ chức này có thể hình thành dưới nhiều hình thức, song từ thực tiễn diễn ra thì điều quan trọng cần đảm bảo là quan hệ gắn bó chặt chẽ giữa bộ phận sản xuất với bộ phận nghiên cứu. Sản xuất nhận từ nghiên cứu các sản phẩm sau nghiệm thu, nguồn nhân lực có kỹ năng, trang thiết bị, thương hiệu hàng hoá thương mại hóa thành công. Về phía mình, bộ phận sản xuất kinh doanh phải là nơi cung cấp tài chính, nguồn thông tin phản hồi để bộ phận nghiên cứu hoàn thiện, đổi mới và sáng tạo sản phẩm mới Hoạt động trong các doanh nghiệp KHCN khác với hoạt động trong các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thông thường do yêu cầu nghiên cứu, hoàn thiện sản phẩm mới, công nghệ mới luôn biến động, có nhiều rủi ro, độ mạo hiểm cao. Tương tác giữa nghiên cứu và sản xuất đòi hỏi nghiên cứu thử nghiệm trong các doanh nghiệp KHCN phải luôn đi trước, mang tính đón đầu, cần thoả mãn những tiêu chí nhất định. Do vậy, trong hoạch định chính sách, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa hoạt động kinh tế với hoạt động KHCN để xây dựng khung pháp lý cần thiết cho loại hình doanh nghiệp này. Để thực hiện quản lý doanh nghiệp KHCN theo hành vi hoạt động, đăng ký trước pháp luật để chính thức hoá nhiệm vụ sản xuất kinh doanh là cần thiết. Công việc này chỉ có thể làm được khi quản lý vĩ mô đủ khả năng bao quát các hình thức tổ chức để có cơ chế thích ứng với từng loại hình, phân định rõ chức năng và nhiệm vụ của các bộ phận nhất là nghiên cứu và sản xuất. Ở tầm doanh nghiệp, thành công trong hoạt động chỉ có thể có được khi mục tiêu, định hướng sản xuất kinh doanh rõ ràng, phương hướng phát triển của đơn vị được xác định cả về không gian và thời gian cụ thể. Trong đó, phương án tổ chức sản xuất kinh doanh cần bao gồm được những nội dung cơ bản về cơ chế huy động vốn, tỷ lệ góp vốn, sử dụng tài sản, cơ sở hạ tầng, chính sách cán bộ, cơ chế phân phối lợi nhuận để đăng ký hoạt động. Lê Nguyễn |
||
