Khoa học và công nghệ với thực tiễn sản xuất và đời sống |
||
| Dạng tài liệu | : | Bài trích bản tin |
| Ngôn ngữ tài liệu | : | vie |
| Tên nguồn trích | : | Khoa học Công nghệ Môi trường |
| Dữ liệu nguồn trích | : | 2005/Số 6/Dự báo - chiến lược - chính sách |
| Đề mục | : | |
| Từ khoá | : | |
| Nội dung: | ||
|
Ghi nhận từ Viện Khoa học và Công nghệ Việt nam Ba mươi năm trước đây, khi đất nước vừa ra khỏi cuộc chiến tranh khốc liệt, Đảng và Nhà nước đã quyết định thành lập Viện Khoa học Việt Nam (nay là Viện KH&CN Việt Nam). Là tổ chức có chức năng nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ theo những hướng trọng điểm, Viện KH&CN Việt Nam đã trở thành một viện đa ngành có lực lượng khoa học lớn nhất nước với 18 viện nghiên cứu chuyên ngành; 10 phân viện và trung tâm trực thuộc; 14 doanh nghiệp nhà nước (DNNN) và 20 liên hiệp, trung tâm khoa học sản xuất, ứng dụng triển khai công nghệ. Các đơn vị thuộc Viện đã có cơ sở vật chất-kỹ thuật khá đồng bộ, có hệ thống quan trắc và thực nghiệm được phân bổ tại mọi vùng lãnh thổ, ven biển và trên các hải đảo. Cùng với cơ sở vật chất, độ ngũ cán bộ KH&CN của Viện đã lên trên 3.400 người với 2.400 thuộc biên chế Nhà nước, 200 người có học hàm giáo sư, phó giáo sư, trên 600 tiến sĩ và hơn 1.300 người có trình độ thạc sĩ, đại học. Từ đòi hỏi của đất nước trong quá trình xây dựng và phát triển, Viện KH&CN Việt Nam đã từng bước chuyển từ mô hình nghiên cứu cơ bản và lý thuyết (mô hình viện hàn lâm) thành một Trung tâm Khoa học và Công nghệ Quốc gia, thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu khoa học tự nhiên và phát triển công nghệ, gắn với thực tiễn và phục vụ có hiệu quả sản xuất và đời sống xã hội. Với phương châm hoạt động “ Khoa học công nghệ gắn với thực tiễn”, nhiều đơn vị của Viện đã phục vụ kịp thời nhu cầu thực tiễn, đã có nhiều thành công, góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế-xã hội và xây dựng tiềm lực KH&CN quốc gia. Trong cuộc trao đổi gần đây, GS, TSKH Nguyễn Khoa Sơn Phó Chủ tịch Viện cho biết, những năm qua các đơn vị nghiên cứu chuyên ngành của Viện đã chủ trì thực hiện thành công nhiều chương trình khoa học công nghệ trọng điểm Nhà nước về điều tra cơ bản và nghiên cứu tổng hợp phục vụ quy hoạch phát triển nhiều vùng lãnh thổ. Các chương trình nghiên cứu biển, nghiên cứu hiện tượng thiên tai, Trường Sa và Biển Đông, Atlas quốc gia, kỹ thuật nhiệt đới... đã tạo được những căn cứ, dữ liệu khoa học có giá trị lâu dài và không thể thiếu trong xây dựng các chiến lược và quy hoạch phát triển kinh tế- xã hội của đất nước. Trong phát triển công nghệ, kết quả đạt được đã đóng góp quan trọng vào tăng trưởng kinh tế. Các Viện chuyên ngành có thế mạnh như Công nghệ sinh học, Công nghệ thông tin, Khoa học vật liệu, Hoá học, Công nghệ Hoá học, Cơ học... đã hoàn thành nhiều công trình nghiên cứu, sản phẩm tạo ra không chỉ có giá trị khoa học mà phục vụ sản xuất và đời sống xã hội với hiệu quả cao. Những phần mềm hiện đại đang được ứng dụng rộng rãi trong thực tế. Thành công trong nghiên cứu công nghệ gen, tế bào động-thực vật, công nghệ vi sinh, protein và enzyme góp phần tạo ra nhiều giống cây trồng và vật nuôi có tính chống chịu cao đối với các điều kiện khí hậu, thời tiết khắc nghiệt. Các loại thuốc chữa bệnh, bò sữa cao sản nhân giống bằng công nghệ cấy phôi, các chế phẩm phân bón vi sinh, thuốc trừ sâu thảo mộc, chất bảo quản nông sản thay thế hoá chất được ứng dụng rộng rãi. Những công nghệ vật liệu mới, vật liệu tiên tiến được sử dụng trong các ngành công nông nghiệp. Các nguồn lade đặc chủng, hệ phổ kế siêu cao tần, polyme tổ hợp được dùng vào điều tra thiên nhiên và xử lý ô nhiễm môi trường. Công nghệ chế tạo nam châm đất hiếm thành các sản phẩm dân dụng và công nghiệp được thị trường chấp nhận trên diện rộng. Đã có nhiều quy trình công nghệ và thiết bị xử lý nước thải, chất thải độc hại. Đặc biệt công nghệ chiết tách và tổng hợp hoạt chất sinh học từ các hợp chất tự nhiên để bào chế các loại thuốc đặc trị đã khắc phục được khó khăn của ngành y, đáp ứng kịp thời đòi hỏi của xã hội trong điều trị những bệnh hiểm nghèo. Thực hiện phương châm gắn KH&CN với thực tiễn, Viện đã đẩy mạnh công tác ứng dụng và chuyển giao nhiều kết quả nghiên cứu vào vùng cao, hải đảo, vùng sâu vùng xa, góp phần phát triển sản xuất, thực hiện xoá đói giảm nghèo trên địa bàn cả nước. Những kết quả nghiên cứu, điều tra về điều kiện tự nhiên và phát triển công nghệ còn là cơ sở để thực hiện tốt nhiệm vụ thẩm định và tư vấn phản biện nhiều chương trình, dự án và những chủ trương, quyết sách lớn của Nhà nước trong xây dựng kinh tế và bảo vệ Tổ quốc. Những hoạt động đưa nhanh kết quả nghiên cứu vào ứng dụng và phục vụ thực tiễn sản xuất và đời sống đã góp phần đẩy mạnh thương mại hoá các sản phẩm nghiên cứu của Viện với nhiều hợp đồng trị giá hàng trăm tỷ đồng. Là một cơ quan nghiên cứu đa ngành, liên quan đến nhiều lĩnh vực trong nền kinh tế thị trường, Viện KH&CN Việt Nam đã phải trải qua những thử nghiệm lâu dài để có được thành công. Nhiều năm lăn lộn với thực tế sản xuất và tổ chức quản lý hoạt động của các đơn vị tự trang trải, PGS Võ Kiên Cường cho thấy: chuyển hoá kết quả nghiên cứu thành sản phẩm hàng hoá là một quá trình phức tạp, phải tuân thủ những quy trình nghiệt ngã. Nhận thức rõ vấn đề này, từ những năm 1990, Trung tâm Khoa học Công nghệ Quốc gia đã có những bước thử nghiệm thăm dò, đã chuyển một bộ phận nhà khoa học sang làm nhiệm vụ nghiên cứu triển khai, tổ chức sản xuất kinh doanh, không nhận tiền lương bao cấp mà thông qua thực hiện các hợp đồng kinh tế, dịch vụ KHCN, bán sản phẩm để có thu nhập. Sau Nghị định 35 về công tác quản lý KHCN của Hội đồng Bộ trưởng, trên cơ sở các đơn vị triển khai kết quả nghiên cứu, dịch vụ khoa học và chuyển giao công nghệ đã có, Trung tâm KH&CN Quốc gia đã thành lập 20 liên hiệp khoa học sản xuất trực thuộc các viện nghiên cứu và doanh nghiệp nhà nước (DNNN). Việc sắp xếp các đơn vị hoạt động theo hướng này đã tạo thuận lợi để các tổ chức nghiên cứu triển khai, chuyển giao công nghệ và sản xuất làm được vai trò cầu nối giữa nghiên cứu với sản xuất và chuyển hoá kết quả nghiên cứu thành sản phẩm hàng hoá cung cấp cho thị trường. Các đơn vị được thành lập theo Nghị định 35 và DNNN thuộc Viện đã có nhiều hoạt động, tác động tích cực đến thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu. Thông qua các hợp đồng tư vấn, chuyển giao công nghệ và sản xuất kinh doanh, các tổ chức này đã tạo ra nguồn thu đáng kể, có tích luỹ tái đầu tư và góp phần khắc phục khó khăn trong điều kiện vốn ngân sách Nhà nước còn hạn chế. Nhìn nhận dưới góc độ tài chính trong năm 2004, GS. TSKH Dương Ngọc Hải cho biết, doanh thu của khối DNNN thuộcViện đã cao gấp 4 đến 5 lần kinh phí nhà nước cấp và phần nộp lại ngân sách đạt 90% số Nhà nước cấp cho Viện. Riêng các đơn vị tự trang trải (đơn vị 35) và các đơn vị nghiên cứu triển khai, doanh thu lên khoảng 130 tỷ đồng bằng 64% ngân sách nhà nước cấp cho Viện. Hoạt động của tổ chức 35 và doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thuộc Viện đã góp phần đưa nhanh kết quả nghiên cứu, tiến bộ khoa học vào sản xuất và đời sống. Chính từ những việc làm cụ thể của các đơn vị này, Viện đã phá vỡ bước cản định biên, biên chế; thu nhận được nguồn nhân lực khoa học có chọn lọc và nhất là khai thác hợp lý cả về thời gian lẫn trí tuệ của các nhà khoa học và công nghệ. Từ những kinh nghiệm thu nhận được, theo GS Hải, Viện KH&CN Việt Nam đã kiên trì đi theo hướng gắn nghiên cứu khoa học với sản xuất và đời sống xã hội. Để tăng cường hoạt động này, trong triển khai thực hiện Nghị định 27/2004/NĐ-CP của Chính Phủ, Chủ tịch Viện đã có quyết định về chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu của Ban ứng dụng và triển khai công nghệ, coi đây là tổ chức thực hiện chức năng quản lý công tác ứng dụng và triển khai các kết quả nghiên cứu khoa học công nghệ vào thực tiễn sản xuất, đời sống và các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ khoa học công nghệ. Ban này đã giúp Viện đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu thử nghiệm, tăng cường năng lực ứng dụng, triển khai, chuyển giao công nghệ vào nhiều lĩnh vực, đặc biệt là nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp Nhà nước. Trong bối cảnh hội nhập đến gần, đưa nhanh các kết quả nghiên cứu vào sản xuất và đời sống ngày càng bức thiết, GS. Nguyễn Khoa Sơn nhận thấy, trong xu thế toàn cầu hoá với sự phát triển vũ bão của cách mạng KH&CN, các phát minh, sáng chế và kết quả nghiên cứu được chuyển hoá thành sản phẩm hàng hoá với thời gian đã được rút ngắn đi hàng chục lần so với đầu thế kỷ XX. Nếu không có giải pháp phù hợp để đưa nhanh tiến bộ KHCN vào đời sống xã hội thì kết quả nghiên cứu tạo ra của Viện dễ trở thành lạc hậu. Từ thực tế diễn ra, các DNNN trong Viện vẫn chưa thể hiện được vai trò “bà đỡ” cho công nghệ và ứng dụng công nghệ. Các kết quả triển khai công nghệ khá đa dạng nhưng còn dừng ở mức ban đầu, ít có sản phẩm hoàn thiện ở trình độ cao và được triển khai rộng rãi. Đội ngũ cán bộ công nghệ có trình độ và kinh nghiệm triển khai của Viện không nhiều, chưa hình thành một cách đồng bộ. Nhiều viện nghiên cứu và trung tâm thuộc Viện đều xuất phát từ nghiên cứu cơ bản, đã nỗ lực để phát triển ứng dụng và triển khai công nghệ nhưng chưa có điều kiện cần thiết để trở thành đơn vị nghiên cứu công nghệ. Hầu hết các đơn vị triển khai và chuyển giao công nghệ khi thành lập không được Nhà nước cấp vốn, phải dùng một phần thiết bị đang quản lý trong các phòng thí nghiệm đăng ký hoạt động với giá trị ít ỏi. Trong quá trình hoạt động, theo cơ chế hiện hành thì nguồn tích luỹ tái đầu tư lại thuộc vốn bổ sung của Nhà nước. Cùng với cơ chế này, chính sách tài chính (thuế, tín dụng...) được vận dụng như đối với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh đã ổn định. Đây là những trở ngại không nhỏ cho hoạt động của các đơn vị chịu nhiều rủi ro trong hoàn thiện công nghệ và sản phẩm để chuyển giao vào sản xuất và đời sống. Có nhiều vấn đề cần được tháo gỡ, song trong phạm vi quản lý của mình, theo GS. Sơn, Viện KH&CN Việt Nam đang hướng vào đào tạo đội ngũ cán bộ công nghệ để phục vụ phát triển lâu dài, đồng thời với tăng cường đầu tư trang thiết bị cho nghiên cứu ứng dụng triển khai công nghệ để Viện thực sự trở thành cơ quan nghiên cứu khoa học có sự phát triển công nghệ mạnh. Trước mắt, nhằm tạo cầu nối liên tục giữa hướng nghiên cứu trọng điểm với các dự án thử nghiệm, Viện sẽ xây dựng một chương trình ứng dụng triển khai công nghệ, tập trung vào 1 vài đề án, chọn một số sản phẩm công nghệ điển hình để đầu tư, hỗ trợ nhằm sớm tạo ra những sản phẩm hoàn chỉnh có thể đưa vào sản xuất hàng loạt. Trong chương trình này, hoạt động Techmart của Bộ KH&CN được coi là một kênh quan trọng để xây dựng thương hiệu, biểu tượng cho những sản phẩm của Viện. Với những giải pháp cụ thể gợi ra, hy vọng là Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam sẽ có nhiều thành công trong đổi mới, nâng cao tiềm lực KH&CN để chuyển hoá nhanh kết quả nghiên cứu vào thực tiễn sản xuất và đời sống./. |
||
