Sở hữu trí tuệ - Trao đổi từ Hội đồng Chính sách KHCN Quốc gia và các nhà quản lý |
||
| Dạng tài liệu | : | Bài trích bản tin |
| Ngôn ngữ tài liệu | : | vie |
| Tác giả | : | Lê Nguyễn ; Hồng Hà |
| Tên nguồn trích | : | Khoa học Công nghệ Môi trường |
| Dữ liệu nguồn trích | : | 2005/Số 5/Dự báo - chiến lược - chính sách |
| Đề mục | : | 10.35 Luật sáng chế và hợp lý hoá. Luật patent. Luật licence |
| Từ khoá | : | Sở hữu trí tuệ |
| Nội dung: | ||
|
Thực hiện quyết định về xây dựng Luật sở hữu trí tuệ và pháp lệnh năm 2004, Bộ Khoa học và Công nghệ đã chuẩn bị báo cáo để Quốc hội xem xét và thông qua “Luật sở hữu trí tuệ ”. Luật dự thảo liên quan đến các lĩnh vực: quyền tác giả, sở hữu công nghiệp và bảo hộ giống cây trồng. Trong quá trình chuẩn bị, Ban soạn thảo đã đi sâu phân tích những đặc thù, so sánh với Luật của nhiều nước, nghiên cứu tác động của các bộ phận cấu thành để xây dựng thành luật chuyên ngành. Dự thảo Luật đã được Bộ KHCN trình lên Chính phủ, Hội đồng Chính sách KHCN Quốc gia đã xem xét,đánh giá trong kỳ họp lần thứ VIII gần đây. Để có thêm tư liệu tham khảo, bài viết đề cập đến một số vấn đề được các thành viên Hội đồng và nhiều nhà quản lý đã đóng góp. Sở hữu trí tuệ trong cạnh tranh hội nhập Trong bối cảnh cạnh tranh hội nhập toàn cầu, bảo hộ sở hữu trí tuệ trở nên đặc biệt quan trọng, đó là mối quan tâm hàng đầu của mỗi quốc gia trong quan hệ kinh tế. Chưa bao giờ vấn đề về sở hữu trí tuệ lại được đặt ra cấp bách như hiện nay, khi nền kinh tế thế giới chuyển sang một thời kỳ phát triển mới, thay đổi về chất dựa trên tri thức.Trong nền kinh tế tri thức của kỷ nguyên mới, các ngành sản xuất mang tính trí tuệ ngày càng phát triển với đặc trưng kinh doanh tài sản cố định vô hình được cấu thành từ trí tuệ. (Năm 2001, tài sản hữu hình của Hãng giải trí Walt Disney chiếm 23,7%, nhưng tài sản vô hình đã lên tới 70,9%. Tỷ lệ này trong hãng kinh doanh phần mềm Microsoft là 2,2% và 97,8%; còn ở Yahoo, chỉ còn 0,8% và 98,2%). Nền kinh tế tri thức với hàm lượng trí tuệ ngày càng cao đã trở thành yếu tố quyết định khả năng cạnh tranh của sản phẩm và dịch vụ của nền kinh tế toàn cầu. Sự phát triển này phụ thuộc chủ yếu vào bảo hộ sản phẩm trí tuệ và do vậy, mục tiêu hội nhập và hướng tới của nền kinh tế nước ta chỉ trở thành hiện thực khi có cơ chế bảo hộ sở hữu trí tuệ hữu hiệu. Hiệp định Thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ năm 2001, Hiệp định sở hữu trí tuệ Việt Nam – Thụy sĩ năm 2000 và những hiệp định liên quan đến sở hữu trí tuệ được ký kết, buộc chúng ta phải sớm đạt được chuẩn mực về nội dung bảo hộ SHTT. Quá trình đàm phán gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) của nước ta, ngoài 2 nội dung thương mại hàng hoá và thương mại dịch vụ, sở hữu trí tuệ cũng là nội dung rộng lớn. Trong khuôn khổ WTO, hiệp định quan trọng liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ, gọi tắt là TRIPS, là một trong những hiệp định đồ sộ, có nội dung phức tạp và dung lượng lớn nhất trong số các hiệp định thương mại quốc tế của GATT và WTO. Tinh thần cơ bản của TRIPS đã đặt ra những tiêu chuẩn bắt buộc cho hệ thống bảo hộ sở hữu trí tuệ của các nước thành viên với hai yêu cầu quan trọng là đầy đủ và hiệu quả. Tính đầy đủ, đòi hỏi hệ thống trí tuệ phải được bảo hộ trên cơ sở một hệ thống pháp luật đầy đủ quy phạm; tiêu chuẩn hiệu quả thể hiện qua tổ chức thực hiện và quy phạm pháp luật có hiệu lực thực thi trong thực tiễn. Đây cũng là những thách thức đặt ra đối với hệ thống luật pháp Việt Nam. Thực trạng hệ thống pháp luật SHTT ở nước ta Phân tích hiện trạng hệ thống pháp luật nước nhà, nhiều thành viên Hội đồng CSKHCNQG và các nhà quản lý cho rằng, chúng ta đã có nhiều nỗ lực để đáp ứng nhu cầu bảo hộ sở hữu trí tuệ theo yêu cầu của quá trình hội nhập; Hệ thống pháp luật hiện hành về SHTT đã bao gồm các nhóm quy phạm luật dân sự, luật hình sự, luật hành chính và luật tố tụng với trên 40 văn bản đã ban hành. Theo Cục trưởng Cục SHTT, Tiến sỹ Phạm Đình Chướng thì, Phần thứ VI trong bộ luật Dân sự và những quy định về SHTT của những văn bản pháp luật có liên quan tương đối đầy đủ và tiếp cận được với xu thế bảo hộ trên thế giới. Tuy nhiên, hệ thống này đã bộc lộ những điểm yếu tản mạn và thiếu đồng bộ; Các quy định về SHTT của Luật Dân sự mang tính nguyên tắc chung; Cấu trúc luật làm gốc cho hoạt động SHTT thiên về khía cạnh dân sự, chưa chú trọng đúng mức đến tính kinh tế thương mại, khoa học công nghệ và hành chính. Trong thực tiễn, quyền hạn, trình tự giải quyết vi phạm, cơ chế phối hợp và trách nhiệm của các tổ chức thực thi chưa đủ minh bạch, cụ thể dẫn đến lúng túng trong triển khai thực hiện; tình trạng xâm phạm quyền SHTT, đặc biệt là bản quyền còn phổ biến; hàng giả, hàng nhái diễn biến ngày càng phức tạp. Chia sẻ nhận xét trên đây, Phó chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, PGS Trần Ngọc Đường cho rằng, ngoài một số quy định về nguyên tắc ở phần VI Bộ Luật Dân sự ban hành năm 1995 và trong Bộ Luật Hình sự năm 1999, phần lớn các văn bản ban hành dưới luật, còn tản mạn, kém hiệu lực, mâu thuẫn và chồng chéo; tình trạng xâm phạm quyền SHTT ngày càng nghiêm trọng, phức tạp, ảnh hưởng đến quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực. Trong điều kiện đó, việc tiếp thu, hoàn thiện pháp luật về SHTT nhằm khắc phục các hạn chế, bất cập của pháp luật hiện hành đã trở nên cần thiết và cấp bách Trên bình diện quốc gia và hội nhập quốc tế, GS Nguyễn Ngọc Trân, Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Đối ngoại của Quốc hội nhận xét rằng, văn bản quy phạm pháp luật về SHTT hiện nay không đồng bộ, rất nhiều còn ở cấp thấp, có nhiều khe hở và những chồng chéo. Các quy định mang tính nguyên tắc về SHCN, về quyền tác giả có trong Hiến pháp và những bộ luật Dân sự, Hình sự và Tố tụng, nhưng chưa có luật quy định cụ thể về SHTT, ngoài 2 nghị định của Chính phủ về quyền tác giả, 3 nghị định về SHCN, bảo hộ SHCN và một nghị định xử phạt hành chính trong lĩnh vực SHCN. Gần đây, từ “thương hiệu” được sử dụng trong xã hội, chưa được công nhận trong các văn bản pháp luật, nhưng đã có sự chồng lấn giữa luật đã ban hành và những luật dự thảo và đang được xem xét. Việt Nam đã tham gia nhiều điều ước quốc tế, đã ký một số hiệp định thương mại song phương và đa phương về SHTT, song những quy định của các điều ước này chưa thể hiện rõ trong hệ thống nội luật và luật SHTT. Cái cần và cũng là cái khó của việc thể hiện không phải là sao chép mà cần xác định được cái tốt nhất cho sự phát triển của mình nhưng không mâu thuẫn với ràng buộc của hội nhập. Từ thực trạng của hệ thống luật pháp SHTT, Vụ trưởng Vụ Pháp chế Bộ KHCN, PGS Đoàn Năng nhận xét, Bộ luật Dân sự hiện hành có những quy định tương đối chi tiết của một số lĩnh vực cụ thể trong đời sống xã hội. Trên thực tế đang tồn tại sự trùng lắp, chồng chéo, thậm chí mâu thuẫn giữa các quy định của bộ Luật Dân sự với các quy định của một số bộ luật chuyên ngành. Những năm qua, chúng ta đã lấy các quy định của bộ luật Dân sự thay cho các đạo luật chuyên ngành. Có thể nói, bất cập lớn nhất của chúng ta hiện nay là thực thi bảo hộ SHTT hiệu quả thấp. Thực trạng này đã tạo ra mối quan ngại, hạn chế của các nhà đầu tư và Chính phủ nước ngoài. Đây cũng là vấn đề nổi lên trong đàm phán gia nhập WTO, nhiều đối tác trên thế giới cho rằng, thực thi SHTT của Việt Nam đang còn là một điểm yếu cần sớm khắc phục. Để giải quyết tồn tại và bất cập của hệ thống pháp luật và thực thi quyền sở hữu trí tuệ, nhiều ý kiến gợi ra, chúng ta cần đổi mới toàn bộ cấu trúc các quy phạm hệ thống pháp luật SHTT thông qua việc xây dựng và ban hành luật SHTT như một đạo luật chuyên ngành để điều chỉnh các quan hệ về sở hữu trí tuệ. Trao đổi của thành viên Hội đồng CSKHCNQG và các nhà quản lý Quán triệt nguyên tắc thể chế hoá kịp thời quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước; tôn trọng chuẩn mực quốc tế trên cơ sở bảo đảm lợi ích quốc gia và cân bằng lợi ích cá nhân chủ sở hữu với xã hội; kế thừa các quy định pháp luật hiện hành; đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ, minh bạch, khả thi đồng thời nghiên cứu, tham khảo có chọn lọc luật của một số nước, các nhà quản lý và ban soạn thảo luật SHTT đã lựa chọn mô hình xây dựng một đạo luật SHTT duy nhất chứ không hình thành hai luật bản quyền (hay quyền tác giả) và luật quyền sở hữu công nghiệp; nhằm đáp ứng không chỉ đòi hỏi khắt khe của quá trình hội nhập mà còn tạo cơ hội khắc phục những bất cập đang tồn tại. Vấn đề đặt ra gây tranh luận hiện nay là xây dựng Luật SHTT theo hướng nào? PGS Trần Ngọc Đường cho rằng, đang có 2 loại ý kiến khác nhau. Loại thứ nhất thiên về không quy định quyền SHTT thành một phần riêng trong Bộ Luật Dân sự; toàn bộ các quy định mang tính nguyên tắc lẫn các quy định cụ thể đều do luật về SHTT và luật chuyển giao công nghệ quy định với tư cách là những luật chuyên ngành. Vì thế, toàn bộ phần VI của Bộ Luật Dân sự hiện hành được đưa ra ngoài Bộ Luật Dân sự. Loại thứ 2, không đồng ý bỏ phần VI của Bộ Luật Dân sự hiện hành cho rằng, Luật Dân sự là bộ luật gốc điều chỉnh các quan hệ về dân sự. Sở hữu trí tuệ là một quyền dân sự quan trọng, các nguyên tắc cơ bản đối với quyền sở hữu trí tuệ với tư cách là một loại quyền tài sản của thể nhân, pháp nhân và các chủ thể khác được pháp luật thừa nhận trong Bộ Luật Dân sự, chẳng những đảm bảo sự điều chỉnh đầy đủ các quan hệ dân sự về tài sản- đối tượng điều chỉnh quan trọng nhất, mà còn là nhân tố đảm bảo cho việc xây dựng các luật chuyên ngành thống nhất với Bộ Luật Dân sự - luật gốc trong lĩnh vực giao lưu dân sự. Từ thực tiễn xây dựng pháp luật 10 năm qua, PGS Đoàn Năng nhận thấy, các đạo luật chuyên ngành được ban hành ngày càng nhiều để điều chỉnh các quan hệ xã hội cụ thể. Ông đã gợi ý chỉ nên để trong Bộ Luật Dân sự những quy định chung nhất như các nguyên tắc cơ bản về cá nhân, pháp nhân; về tài sản và quyền sở hữu tài sản; về các giao dịch dân sự và các vấn đề chung cho các lĩnh vực quan hệ dân sự. Tất cả các quy định cụ thể phù hợp với tính chất và đặc điểm của các quan hệ cụ thể trong từng lĩnh vực của đời sống xã hội nên được xây dựng trong các văn bản pháp lệnh chuyên ngành. Sẽ là thuận lợi hơn cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân khi áp dụng, nếu Bộ Luật Dân sự chỉ quy định các vấn đề chung, các nội dung chung cho tất cả các lĩnh vực quan hệ dân sự, còn các đạo luật chuyên ngành sẽ cụ thể hoá các quy định chung của Luật Dân sự vào điều kiện cụ thể của mỗi chuyên ngành. Để hệ thống luật pháp quốc gia về SHTT được đồng bộ và nhất quán, GS Nguyễn Ngọc Trân lưu ý, trong xây dựng Luật SHTT cần xét đến mối quan hệ với các Bộ Luật Dân sự, Luật Thương mại, Luật Cạnh tranh và các luật chuyên ngành khác có liên quan. Ông nhấn mạnh, Luật Dân sự là một bộ luật cơ bản, quy định những nội dung liên quan đến SHTT và quyền SHTT. Theo Ông, quyền SHTT bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản là những quyền cơ bản của cá nhân, pháp nhân trong giao dịch dân sự theo nguyên tắc bình đẳng, tự nguyện cam kết, thỏa thuận. Do vậy, Ông thiên về giữ Phần VI trong Bộ luật Dân sự, trong đó chỉ nên quy định những vấn đề mang tính đặc trưng dân sự, còn các vấn đề khác về SHTT thì sẽ được quy định trong Luật SHTT và Luật Chuyển giao công nghệ. Mối quan hệ giữa Luật SHTT và các luật chuyên ngành có liên quan (như Luật Dược), theo Ông, luật chuyên ngành chỉ quy định về SHTT và bảo hộ quyền SHTT trong phạm vi ngành; điều cần là không thiếu nhưng các quy định không được mâu thuẫn nhau. Dự thảo luật với 479 điều khiến cho nhiều thành viên Hội đồng CSKHCNQG một cảm nhận có vấn đề quá chi tiết nhưng lại có những nội dung chưa đầy đủ. Giáo sư Phạm Văn Biên cho rằng, trong tình thế phải chuẩn bị gấp, bàn chưa kỹ thì dễ dẫn tới không đầy đủ; vội vã đưa ra ngay một cái thiếu toàn diện, chưa đầy đủ thì về sau gỡ lại rất mất thời gian và rất khó. Theo Ông, nên chăng hướng vào xây dựng một bộ luật SHTT. Trước khi có luật cụ thể cho từng đối tượng và từng vấn đề chi tiết, cần xây dựng cho được luật tổng quát về sở hữu trí tuệ. Luật này sẽ bao gồm những phần mang tính nguyên tắc mà sau này tất cả những luật cụ thể về giống cây trồng, về mạch tích hợp bán dẫn v.v. sẽ phải tuân theo. Trên tinh thần trao đổi, với kết quả Ban soạn thảo đã chuẩn bị, Bộ trưởng Hoàng Văn Phong đồng tình với những ý kiến nêu ra. Ông cho rằng, các bộ phận soạn thảo của Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Tư pháp, Bộ Thương mại và các Bộ, ngành khác cần tiếp tục trao đổi; nên giữ lại những cái gì chung nhất, nguyên tắc nhất của phần VI của Bộ Luật Dân sự để điều chỉnh chung. Trong đó, sở hữu trí tuệ được coi là một đối tượng trong giao dịch dân sự và Luật SHTT cần có những chế tài mạnh, cụ thể hơn so với Luật Dân sự. Tương tự như vậy, đối với cạnh tranh và bí mật kinh doanh, cũng nên có một chương về bí mật kinh doanh và chống cạnh tranh không lành mạnh, nhưng không bị chồng chéo với bộ luật Thương mại Xây dựng hệ thống luật pháp SHTT, ý kiến từ Hội đồng CSKHCNQG Sau những trao đổi, thảo luận đầy trách nhiệm của các thành viên, trong báo cáo gửi Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Hội đồng CSKHCNQG Chu Tuấn Nhạ đã ghi nhận: "Sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội và hội nhập quốc tế hiện nay đòi hỏi phải khẩn trương chuẩn bị và ban hành một bộ luật về sở hữu trí tuệ. Đây là bộ luật lớn và có nội dung khá phức tạp, việc ban hành là yêu cầu rất cấp thiết, phải thận trọng nhưng cũng cần tiến hành rất khẩn trương." Đa số ý kiến đồng tình với những quan điểm Ban Soạn thảo đưa ra; tuy nhiên, nội dung cụ thể của Luật cần thể hiện được rõ những quan điểm này, đặc biệt là nguyên tắc đảm bảo hài hòa chuẩn mực quốc tế với tạo điều kiện thuận lợi để hội nhập kinh tế quốc tế và bảo vệ lợi ích quốc gia. Số đông thành viên cho rằng, yêu cầu hạn chế tối đa việc ban hành văn bản hướng dẫn chưa được quán triệt sâu sắc trong dự thảo, nhiều quy định chưa đủ cụ thể và có khá nhiều nội dung vẫn giao cho Chính phủ và các bộ/ngành hướng dẫn thi hành. Như vậy, khả năng thực thi của luật sẽ bị hạn chế. Về cấu trúc, Luật này có phạm vi điều chỉnh rất rộng, do vậy nên được chia thành ba phần: (i) Quyền tác giả; (ii) Sở hữu công nghiệp; (iii) Một số đối tượng khác của sở hữu trí tuệ. Về những vấn đề có ý kiến khác nhau trong quá trình soạn thảo, Hội đồng cho rằng: Trong quan hệ giữa qui định của Luật SHTT và quyền SHTT Bộ luật Dân sự; Quyền SHTT là một trong những quyền rất cơ bản của công dân, vì vậy, Bộ luật Dân sự không thể không có nội dung này. Tuy nhiên, rất cần phối hợp giữa Ban Soạn thảo của Luật này với Ban Soạn thảo Luật Dân sự để tránh chồng chéo, thậm chí mâu thuẫn nhau. Để hệ thống luật quốc gia được đồng bộ và nhất quán, Luật SHTT cần được xây dựng có xét đến mối quan hệ với Bộ luật Dân sự, Luật Thương mại, Luật Cạnh tranh và các luật chuyên ngành khác có liên quan như Luật Dược. ... Đối với việc bảo hộ quyền chống cạnh tranh không lành mạnh và chỉ dẫn địa lý trong dự thảo Luật, nhiều ý kiến cho rằng, do tính chất đặc thù của lĩnh vực SHTT, luật này cần quy định cụ thể về bảo hộ bí mật kinh doanh dưới góc độ là một đối tượng độc lập của quyền SHTT.Vấn đề đặt ra là, Luật SHTT phải thể hiện phù hợp với đối tượng điều chỉnh là bảo hộ quyền bí mật kinh doanh với tư cách là quyền dân sự, một loại quyền độc lập của sở hữu trí tuệ. Luật Cạnh tranh qui định các hành vi cơ bản bị coi là xâm phạm, còn Luật SHTT có thể qui định cụ thể và đầy đủ hơn. Hiện nay, trong các văn bản pháp luật, chưa có quy định về thương hiệu (brand name) và đồng hoá khái niệm này với nhãn hiệu hàng hoá (trade mark). Luật SHTT nên đưa ra các quy định về thương hiệu để bảo vệ một cách thích đáng quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể kinh doanh nhằm tạo một hành lang pháp lý vững chắc và môi trường pháp lý minh bạch, bình đẳng cho nền kinh tế. Về các biện pháp tự vệ nhằm đảm bảo lợi ích quốc gia, Hội đồng nhận thấy, cần cân nhắc kỹ việc lựa chọn để đưa ra những qui định nhằm đảm bảo lợi ích quốc gia trước sức ép của các nước lớn, nhưng không xâm phạm đến quyền và lợi ích chính đáng của các chủ sở hữu trí tuệ. Đa số ý kiến cho rằng, nên có qui định cụ thể về các biện pháp tự vệ. Tuy nhiên, có ý kiến gợi ra, không nên qui định quá chi tiết và cụ thể. Liên quan đến chủ quyền quốc gia và quan hệ quốc tế trong điều kiện phức tạp hiện nay. Hội đồng đề nghị xem lại biện pháp:"Nhà nước cho phép tổ chức, cá nhân khác nhân danh Nhà nước sử dụng các đối tượng sở hữu trí tuệ để phục vụ cho các mục tiêu dân sinh, quốc phòng, an ninh”. Nếu sử dụng biện pháp này, cần có qui định chặt chẽ về điều kiện và thẩm quyền áp dụng. Sau cùng là vấn đề bảo hộ sáng kiến, Hội đồng đề nghị nên có nội dung này, nhưng phải quy định vụ thể hơn. Cần làm rõ hơn về phương diện pháp lý thế nào là sáng kiến, điều kiện đối với sáng kiến được đăng ký và tính mới của sáng kiến. Sở hữu trí tuệ là vấn đề lớn trong tiến trình hội nhập, mặc dù chúng ta đã có nhiều văn bản pháp quy nhưng đây vẫn là việc làm mới mẻ, mới không chỉ về nội dung mà còn là vấn đề thời sự. Hy vọng là những trao đổi tâm huyết và đầy trách nhiệm của các nhà quản lý và thành viên Hội đồng CSKHCNQG ghi nhận được có thể là tư liệu tham khảo có ích đối với độc giả quan tâm./. |
||
