Sự phát triển của sinh thái công nghiệp |
||
| Dạng tài liệu | : | Bài trích bản tin |
| Ngôn ngữ tài liệu | : | vie |
| Tên nguồn trích | : | Khoa học Công nghệ Môi trường |
| Dữ liệu nguồn trích | : | 2005/Số 4/Dự báo - chiến lược - chính sách |
| Đề mục | : | |
| Từ khoá | : | sinh thái công nghiệp ; |
| Nội dung: | ||
|
Chắc là chúng ta ai cũng biết tới sinh thái học, mà định nghĩa tổng quát của nó là bộ môn khoa học nghiên cứu các điều kiện sống của các sinh vật và mối tác động qua lại giữa chúng và với môi trường xung quanh. Còn sinh thái học công nghiệp, ta lần lượt hiểu cụm từ này: sinh thái học nghiên cúu các hệ sinh thái, còn công nghiệp chỉ xã hội công nghiệp nói Sinh thái công nghiệp được xây dựng trên cơ sở nghiên cứu các dòng vật chất và dự trữ vật chất, các dòng dự trữ năng lượng và thông tin bên trong một hệ được phân tích rõ ràng (khu công nghiệp, vùng vùng, một nước…). Một trạm lọc nước thải chẳng hạn sẽ sinh ra cơ man nào bùn, đến lượt nó, lại gây ô nhiễm đất ở nơi nó được tích lại. Các giải pháp riêng rẽ có hiệu quả ngày một giảm xuống; thời kỳ đầu khi lọc nước, thực vậy, cho phép hạn chế được ô nhiễm với giá rẻ nhưng rồi việc loại bỏ một số chất gây ô nhiễm có nitơ và có cacbon phải dùng phương pháp hóa học hay dùng vi khuẩn trong các thiết bị phức tạp và tốn kém vì điều kiện nhiệt độ rất khắt khe. Như ta biết, các hệ sinh thái tự nhiên là những bức tranh thánh về tính bền vững và cân bằng: Sử dụng vật chất một cách tối ưu vì mỗi chất thải lại được một sinh vật khác sử dụng, các nhu cầu năng lượng được đáp ứng bằng đóng góp của năng lượng tái tạo: năng lượng mặt trời. Vài mốc lịch sử Ngoài khía cạnh thích thú về mặt trí tuệ ra, còn có nhiều yếu tó khác cắt nghĩa sự quảng bá nhanh chóng khái niệm sinh thái học môi trường và sự phát triển của một lĩnh vực khoa học mới. Có một số nhà sinh thái lác đác nêu lên trong thập niên 50 (của thế kỷ trước) cách tiếp cận này thực sự hình thành với khái niệm phát triển bền vững đầu thập niên 90 (của thế kỷ trước). Đầu tiên là một bài báo đăng trên Tạp chí Scientific American năm 1987. Lúc đó, sinh thái học công nghiệp tỏ ra như một công cụ giúp xã hội công nghiệp hướng tới mục tiêu phát triển bền vững, nhưng công cụ đó vẫn còn mờ nhạt. Tiếp đến năm 1991, Viện hàn Khoa học Quốc gia đã tổ chức cuộc hội thảo riêng cho chủ đề này. Đến năm 1996, cố vấn tổng thống về phát triển bền vững đã đề nghị Mở rộng khái niệm và bước đi có liên quan Việc tận dụng chất thải nhờ có việc khép kín các dòng nói trên (dòng vật chất, năng lượng…) là một cách rút gọn trong việc áp dụng các nguyên tắc của sinh thái học công nghiệp. Ngoài ra còn các mặt khác nữa cần chú ý: - Giảm thiểu việc phát tán phung phí vào môi trường bằng cách cải tiến vật liệu (làm bất động các phụ gia, chống ăn mòn…) bằng cách quay vòng (tái sử dụng), thay thế các chất nguy hiểm bằng các chất vô hại. Cấm hẳn việc sử dụng Clo hiện đang phổ biến trong nhiều quy trình sản xuất, cấu trúc lại hệ thống công nghiệp. Một ví dụ phát tán phung phí là sản xuất lốp ô tô. Tư tưởng chủ đạo là khép kín các dòng vật chất, năng lượng, tránh tất cả mọi phát tán phung phí suốt trong cả vòng đời của sản phẩm. - Phi vật thể hoá các hoạt động kinh tế: thu được nhiều sản phẩm và dịch vụ trên một lượng vật chất không đổi, thậm chí là ít hơn, tăng năng suất tài nguyên bằng cách bán công dụng thay cho bán đồ vật. - Khử cacbon trong năng lượng: tiêu thụ ít năng lượng hơn (các chính sách làm chủ nhu cầu năng lượng), khuyến khích sử dụng các nhiên liệu ít phát tán cacbon, sử dụng sinh khối ở quy mô công nghiệp, tiến tới sử dụng hidro. Việc sử dụng hidro đặt ra nhiều vấn đề về công nghệ còn chưa giải quyết được hiện nay như an toàn vận tải, bảo quản, vật liệu và hạ tầng ống dẫn. Cách tiếp cận hệ của sinh thái học công nghiệp không chỉ hạn chế ở các tương tác có tính vật lý mà còn cả việc xem xét tương lai của xã hội công nghiệp và câu hỏi giá trị của nó. Ngoài ra còn có các bước đi khác nữa để đáp ứng đòi hỏi của công cụ thực hiện phát triển bền vững. Các khái niệm này được đưa sử dụng trong giới thương mại và các tổ chức chính phủ. Nó dựa trên các cách tiếp cận “sản phẩm” hay “quy trình” bên trong doanh nghiệp. Nhiều doanh nghiệp lớn, chủ yếu là các công ty đa quốc gia, từ năm 1992 đã tập hợp lại trong Hội đồng doanh nghiệp thế giới vì phát triển bền vững (World Business Council for Sustainable Development –WBCSD) để giúp các doanh nghiệp hướng đến sự phát triển này. Chương trình phát triển của Liên hợp quốc luôn ủng hộ khái niệm phát triển sạch. Đó là chiến lược môi trường được gắn kết vào quy trình, sản phẩm và dịch vụ. Ở Nhật thì có sáng kiến tìm cách không có phát tán (Zero Emission Research Initiative). Ngoài ra, khái niệm “trao đổi chất trong công nghiệp” cũng đề xuất việc khảo sát các quy trình biến đổi vật chất, đưa ra một hoạ đồ định lượng các dòng, rồi dự trữ của vật chất. Cách đi dựa trên nguyên tắc bảo toàn vật chất (nguyên tắc đầu tiên của nhiệt động học). Bằng chứng khả năng thực thi trên toàn thế giới Có một yếu tố hình như là quyết định thành công của sinh thái học công nghiệp: sự hiện hữu nhiều thành tựu cụ thể, bằng con số. Ở đây chỉ nêu ra một vài ví dụ. Ở châu Âu, tại Đan Mạch có hệ sinh thái công nghiệp Kalundborg, một thành phố công nghiệp nằm ven biển, cách Copenhagen 100 km. Ở Áo, có tỉnh Styrie, một tỉnh có 1,2 triệu dân, đã xây dựng một hệ thống phức tạp trao đổi chất thải, phôi thai của loại hình sinh thái thứ hai như đã nói ở trên. Ở châu Mỹ có các thành tựu ở Hoa Kỳ và Mêhicô. Ở châu Á cũng có nhiều đề án ở Nhật, Thái Lan, Philippin, Để thúc đẩy, các chính phủ nên có sự khuyến khích về luật pháp và kinh tế, tức là có tiếng nói mạnh mẽ đối với phát triển bền vững. Nguyễn Văn Đóa ( |
||
