Tìm kiếm nâng cao

Số truy cập:
Home » Cơ sở dữ liệu toàn văn » Ấn phẩm điện tử của Trung tâm » Khoa học Công nghệ Môi trường » 2005 » Số 3 » Dự báo - chiến lược - chính sách » Kết hợp đào tạo với nghiên cứu khoa học giữa các trường đại học và viện nghiên cứu - tiếng nói của một số nhà khoa học và quản lý

Kết hợp đào tạo với nghiên cứu khoa học giữa các trường đại học và viện nghiên cứu - tiếng nói của một số nhà khoa học và quản lý

  
Dạng tài liệu : Bài trích bản tin
Ngôn ngữ tài liệu : vie
Tác giả : Lê Nguyễn
Tên nguồn trích : Khoa học Công nghệ Môi trường
Dữ liệu nguồn trích : 2005/Số 3/Dự báo - chiến lược - chính sách
Đề mục :
Từ khoá : đào tạo và nghiên cứu trường đại học viện nghiên cứu
Nội dung:

Nhiều năm qua, Đảng và Nhà nước ta luôn chủ trương tăng cường việc kết hợp giáo dục đào tạo với nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ nhằm nâng cao chất lượng đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học và hiệu quả nghiên cứu. Với lực lượng hiện có của trên 220 trường đại học, cao đẳng gồm 38.600 giảng viên và trên 1.000 tổ chức khoa học công nghệ với hàng vạn cán bộ có trình độ trên đại học tham gia, các ngành KH&CN và GD&ĐT đã có nhiều nỗ lực để thực hiện việc nghiên cứu với nội dung ngày một cao hơn. Nhìn chung, hoạt động giáo dục đào tạo, nghiên cứu khoa học giữa các trường đại học và cơ quan nghiên cứu đã có mối quan hệ hỗ trợ lẫn nhau, tạo được cơ sở ban đầu để nâng cao chất lượng đào tạo và hiệu quả nghiên cứu. Tuy nhiên, mối quan hệ này còn lẻ tẻ, thiếu toàn diện, ít hiệu quả.

Thực trạng quan hệ liên kết đào tạo với nghiên cứu không phải là khó thống nhất nhận định, nhưng nguyên nhân của những yếu kém và trì trệ lại là vấn đề không dễ dàng nhất trí. Cuối tháng 12 năm 2004 vừa qua, Hội đồng Chính sách Khoa học và Công nghệ Quốc gia đã tiến hành phiên họp toàn thể lần thứ bảy của nhiệm kỳ 2003-2008, nhằm thống nhất ý kiến tư vấn cho Thủ tướng Chính phủ về vấn đề này.

Với tinh thần thẳng thắn, khách quan; từ những trăn trở nhiều năm và những thực tiễn đúc kết được trong thực tiễn nghiên cứu, giảng dạy, sản xuất và quản lý nhà nước, các thành viên của Hội đồng đã đóng góp nhiều ý kiến sâu sắc, gợi ra những vấn đề rất đáng quan tâm, góp phần cùng các cơ quan chức năng xây dựng và hoàn thiện một đề án trình Thủ tướng Chính phủ trong thời gian tới.

Tiến sỹ Trần Ngọc Đường, Phó chủ nhiệm Văn phòng, trợ lý Chủ tịch Quốc hội cho rằng: kết hợp đào tạo với nghiên cứu khoa học giữa các trường đại học và viện nghiên cứu có nhiều lợi ích. Trong điều kiện đội ngũ giáo viên ở các trường đại học còn yếu và thiếu, chất lượng giáo dục đào tạo còn thấp, thì việc kết hợp này càng có ý nghĩa rất thiết thực. Mối quan hệ biện chứng giữa giảng dạy với nghiên cứu khoa học trong chính bản thân của một trường đại học có ý nghĩa đặc biệt quan trọng; một giảng viên dạy giỏi chỉ trên cơ sở nghiên cứu khoa học tốt. Kết hợp đào tạo với nghiên cứu khoa học không chỉ là để “nâng cao chất lượng đào tạo và hiệu quả hoạt động nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ”, theo Ông, đây còn là việc làm để phát huy tiềm năng, sức mạnh tổng hợp của đội ngũ cán bộ giảng dạy ở các trường đại học và đội ngũ cán bộ khoa học ở các viện nghiên cứu trong đào tạo và phát triển khoa học của nước nhà.

Muốn kết hợp được đào tạo với nghiên cứu thì một trong những điều kiện tiên quyết là đội ngũ cán bộ của cả trường và viện phải đáp ứng được đòi hỏi của nhau. Giảng viên không đáp ứng được đòi hỏi của nghiên cứu ở các viện và ngược lại cán bộ nghiên cứu không có năng lực giảng dạy đáp ứng yêu cầu của các trường thì sự kết hợp đó cũng khó lòng thực hiện. Do vậy, nâng cao năng lực, trình độ của đội ngũ giáo viên và cán bộ nghiên cứu là một trong những giải pháp cơ bản để tăng cường sự kết hợp này.

Tiến sỹ Trương Hữu Chí, Viện trưởng Viện máy và Dụng cụ Công nghiệp, một cơ quan nghiên cứu có nhiều thành công trong gắn nghiên cứu với sản xuất và đào tạo nhận thấy: trong đào tạo sau đại học, sự hợp tác giữa các viện và trường đại học nước ta mới dừng ở viện gửi các học viên cao học về trường đào tạo, hầu như chưa có hợp tác trong việc chọn đề tài nghiên cứu. Cũng theo ông, kết quả nghiên cứu khoa học trong trường đại học nhiều hạn chế còn do: lực lượng giảng viên ở các đại học hiện quá ít so với sinh viên, phổ biến hiện nay, số giờ giảng dạy bình quân của giảng viên đại học một năm đến 1.000 giờ, không còn thời gian cho nghiên cứu khoa học. Mặt khác, trang thiết bị thí nghiệm ở đại học bị lạc hậu hơn nhiều so với sản xuất; thiếu các nhà khoa học đầu đàn nên các bộ môn ở trường đại học gặp nhiều khó khăn, lúng túng để hình thành những hướng nghiên cứu mũi nhọn.

Từ kinh nghiệm gắn nghiên cứu với sản xuất và đào tạo của mình, ông Chí cho rằng: mục tiêu của việc kết hợp đào tạo với nghiên cứu khoa học giữa trường đại học và viện nghiên cứu cần tập trung vào: phát huy tối đa năng lực hiện có về đội ngũ cán bộ, cơ sở vật chất, trình độ khoa học công nghệ; xây dựng kỹ năng nghiên cứu, giúp sinh viên có định hướng chuyên môn sâu theo năng lực, sở trường ngay khi còn đang theo học và quan trọng là, nâng cao được năng lực để từng bước biến các trường đại học trở thành những trung tâm nghiên cứu khoa học mũi nhọn của đất nước.

Phân tích thực trạng kết hợp giữa đào tạo và nghiên cứu ở nước ta, Giáo sư Đỗ Quốc Sam, nguyên Chủ tịch Hội đồng Nhà nước về các Dự án Đầu tư, cho rằng: chủ trư­ơng kết hợp đề ra đúng đắn, nhưng kết quả có được thư­ờng chỉ là những kết hợp cá lẻ. Nguyên nhân của tình trạng này có thể do, việc kết hợp giữa đào tạo và nghiên cứu đòi hỏi những điều kiện nhất định như­ng ch­ưa đ­ược tạo lập thông qua quan hệ kết hợp theo những chư­ơng trình, quy hoạch thống nhất giữa 2 ngành giáo dục và khoa học. Theo Ông, điều kiện cần để kết hợp đó là: quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của trư­ờng và viện nghiên cứu về cán bộ, kinh phí, cơ sở vật chất, kế hoạch hoạt động;  môi trư­ờng liên thông giữa tổ chức đào tạo và tổ chức nghiên cứu khoa học; chính sách khuyến khích kết hợp đào tạo với nghiên cứu và chỗ dựa pháp lý là những văn bản pháp quy của Nhà nư­ớc.

Về những mô hình kết hợp, GS  cho rằng, nên ư­u tiên phát triển mô hình tr­ường đại học có trung tâm nghiên cứu trực thuộc và mô hình viện nghiên cứu có trung tâm đào tạo trực thuộc. Theo Ông, việc làm này, không gây khó khăn gì cho các trung tâm vì cơ chế quản lý sự nghiệp chắc chắn sẽ được cải cách có lợi cho quyền tự chủ của các trung tâm gọi là “trực thuộc”. Mặt khác, các trung tâm này còn đư­ợc sự hỗ trợ và tham gia trực tiếp của các bộ môn khoa học, các phòng thí nghiệm của trư­ờng và viện. Vấn đề cần là, xác định rõ phạm vi áp dụng thích hợp để mở rộng mô hình; có  thể xem xét việc mở ra những nhánh sản xuất thực nghiệm như bệnh viện thực nghiệm trong ngành y dư­ợc; công trư­ờng thực nghiệm, nhà máy thực nghiệm với ngành công nghiệp, xây dựng; vư­ờn ươm doanh nghiệp và công nghệ đối với các lĩnh vực công nghệ mới...

Trên tinh thần đổi mới hệ thống KH&CN quốc gia, GS Vũ Đình Cự, nguyên Chủ nhiệm Ủy ban KH,CN&MT Quốc hội nhận xét, việc kết hợp đào tạo với nghiên cứu khoa học ở nước ta yếu có nhiều nguyên nhân, nhưng nguyên nhân chính là doanh nghiệp không có kinh phí để phát triển công nghệ trong khi ở các nước, doanh nghiệp có thể dành tới 10% doanh số để phát triển công nghệ. Ví dụ, công ty NEC Nhật Bản, năm 1999 dành đến 3 tỷ USD doanh số để phát triển công nghệ; trong đó, có nhiều hợp đồng ký với trường đại học và viện nghiên cứu. Ở nước ta, dù có kết hợp được tốt với nhau chăng nữa, thì cũng chỉ trong phạm vi ngân sách nhà nước, nghĩa là “xôi chấm xôi”. Và do vậy, tình hình diễn ra khôi hài đến mức là, viện hoặc trường cũng không thể kết hợp được với doanh nghiệp do chính mình lập ra.

Trong xu thế hội nhập hiện nay, Giáo sư Chu Tuấn Nhạ, Chủ tịch Hội đồng Chính sách KH&CN Quốc gia lưu ý là, trên thế giới người ta rất quan tâm đến việc kết hợp 3 thành phần là viện NC&PT, trường đại học và doanh nghiệp sản xuất kinh doanh. Chỉ có kết hợp chặt chẽ cả 3 thành phần đó với nhau (bằng cơ chế chứ không phải bằng biện pháp tổ chức hành chính) thì mới phát triển mạnh mẽ tiềm lực khoa học của các trường đại học và viện nghiên cứu, đồng thời mới đóng góp có hiệu quả vào việc phát triển sản xuất, kinh doanh. Đây cũng là những nội dung đã được nhấn mạnh trong quyết định về đổi mới cơ chế quản lý khoa học và công nghệ Thủ tướng chính phủ mới ban hành. Sự nghiệp phát triển KH&CN và đổi mới hiện nay đòi hỏi tính liên ngành và liên kết rất cao. Ông Nhạ nhấn mạnh, ở nhiều nước, người ta rất coi trọng việc hợp tác giữa các trường đại học, viện nghiên cứu và các doanh nghiệp; họ đã lập ra nhiều trung tâm hợp tác nghiên cứu (CRC); là những tổ hợp tiến hành đồng thời các hoạt động nghiên cứu, thương mại hoá sản phẩm khoa học và đào tạo sau đại học. Đây là những kinh nghiệm tốt, chúng ta cần tham khảo.

Từ một cách nhìn tổng hợp, TS Trần Việt Hùng, Phó Chủ nhiệm Ủy ban KH,CN&MT Quốc hội cho biết, các viện nghiên cứu và trường đại học nằm trong hệ thống các tổ chức khoa học và công nghệ của cả nước đồng thời là nơi đào tạo cán bộ khoa học có trình độ cao của hệ thống giáo dục quốc gia. Không nên đặt trọng tâm vào việc xây dựng các khoa mới, viện mới trong các trường đại học hoặc các trung tâm đào tạo sau đại học ở các viện nghiên cứu. Các mô hình này đã có, vấn đề là, nghiên cứu tổng kết để đề ra giải pháp về cơ chế và tổ chức để có thể phát triển, nhân rộng; cần chuẩn bị cụ thể, đủ các điều kiện về phòng thí nghiệm, chất lượng thiết bị,kết quả nghiên cứu trong lĩnh vực đăng ký đào tạo, nghiên cứu được công bố và các tổ chức có thể tham gia.

Gắn đào tạo với nghiên cứu không chỉ xuất phát từ nhu cầu thực tế đào tạo mà còn phải phù hợp và đáp ứng chiến lược phát triển khoa học công nghệ, phát triển kinh tế-xã hội của đất nước. Như vậy, phải có các vấn đề do sản xuất đề xuất, có các đề án nghiên cứu khoa học theo một mục tiêu lâu dài. Muốn phát triển công nghệ nano thì ngay từ bây giờ phải đặt vấn đề đào tạo nguồn nhân lực nghiên cứu và chuẩn bị hướng nghiên cứu phát triển lĩnh vực này trong khoảng 15 – 20 năm tiếp theo. Hiện nay, Quốc hội đang xem xét hoàn thiện dự án Luật giáo dục, trong kế hoạch từ nay đến 2007, sẽ xây dựng và ban hành các Luật sở hữu trí tuệ, Luật chuyển giao công nghệ, Luật giao dịch điện tử và Pháp lệnh công nghệ cao... Đây những luật cơ bản của hoạt động KHCN và đào tạo. Vì vậy, các cơ chế, chính sách của đề án kết hợp đào tạo với nghiên cứu khoa học phải được luật hóa thông qua các văn bản pháp luật thì mới khả thi.

Xuất phát thực tiễn của lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn, GS TS Phạm Xuân Hằng, Hiệu trưởng trường Đại học KHXHNV, lại có cách nhìn riêng, Ông gợi ra, việc kết hợp giữa đào tạo và nghiên cứu từ trước cho đến nay ở các trường đại học đã được thể hiện ngay trong bản thân mỗi giảng viên, họ phải tự nghiên cứu để giảng dạy. Thời bao cấp, không có nhiều cơ hội để nhận đề tài nghiên cứu khoa học như hiện nay, nhưng giảng viên đại học đã phải tiến hành nghiên cứu dưới nhiều hình thức. Giảng viên đại học không nghiên cứu thì bài giảng sẽ không có hồn, chỉ là những thông tin cũ trước thực tiễn luôn biến động. Vì vậy, hoạt động NCKH là nhu cầu tự thân của mỗi giảng viên. Có một ưu thế nổi bật trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn của các trường so với các viện nghiên cứu là, trong việc chuyển giao tri thức, kết quả nghiên cứu ở viện sau khi được nghiệm thu, chỉ có thể công bố thành sách khi có kinh phí; còn kết quả nghiên trong trường đại học, dù công bố thành sách hay không cũng được giảng viên bổ sung vào bài giảng, truyền đạt cho học viên một cách tự nhiên. Con đường chuyển giao kết quả nghiên cứu vừa rẻ, lại vừa có tính chiến lược trong đào tạo nguồn nhân lực.

Các hình thức tham gia vào hoạt động dào tạo của các nhà nghiên cứu hiện nay phụ thuộc vào tính chủ động của mỗi trường và sự tự nguyện của các nhà khoa học. Với đội ngũ gần 22 nghìn cán bộ có trình độ, làm việc trong các tổ chức nghiên cứu hoạt động biệt lập với đào tạo hiện nay; theo ông Hằng, cần khai thác bằng cơ chế thích hợp để phục vụ sự nghiệp đào tạo lâu dài. Thực tiễn cho thấy, việc kết hợp đào tạo theo hình thức kiêm nhiệm đã mang lại những hiệu quả, cần được duy trì có cơ chế nâng đỡ; còn kiểu biệt phái, chưa thể hiện được thực chất cần thiết, ngoài bao phiền toái về chế độ chưa thể thực hiện được trong giai đoạn hiện nay.

Cũng trong lĩnh vực KHXHNV, Tiến sỹ Lưu Trần Tiêu, nguyên Thứ trưởng Bộ Văn hoá-Thông tin nhìn nhận, kết hợp đaò tạo với nghiên cứu khoa học là sự phối hợp đa dạng hóa và sử dụng chung các nguồn lực trí tuệ và cơ sở vật chất kỹ thuật với hiệu quả cao, tiết kiệm để nâng cao chất lượng cả về đào tạo và nghiên cứu khoa học. Viện và trường “tuy hai nhưng là một, tuy một nhưng lại là hai” với hàm nghĩa nêu trên. Ông cho rằng,Về nguyên tắc, sự liên thông, phối hợp trong đào tạo và nghiên cứu khoa học là cần thiết. Nhưng khi đi vào hoạt động cụ thể, không phải là không có những vấn đề khó khăn, phức tạp, nhất là vấn đề tổ chức, tài chính và cơ sở vật chất kỹ thuật. Việc dùng chung các thiết bị khoa học, phòng thí nghiệm do Nhà nước đầu tư phục vụ sự nghiệp đào tạo và nghiên cứu khoa học là hình thức tiết kiệm, phát huy hiệu quả cao cơ sở vật chất kỹ thuật được đầu tư, nhưng đòi hỏi phải thực hiện theo quy chế chặt chẽ, có sự phân định rõ ràng và trách nhiệm cao trong sử dụng và quản lý tài sản, nếu không dễ dẫn đến tình trạng “cha chung không ai khóc”.

Sau những ngày làm việc khẩn trương, với những đóng góp tâm huyết của các thành viên, khép lại hội nghị, Chủ tịch Hội đồng Chính  sách KH&CN Quốc gia Chu Tuấn Nhạ đã kết luận, nêu rõ: trong bối cảnh đổi mới cơ chế quản lý và đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động GD&ĐT và KH&CN, nên nghiên cứu mở rộng việc kết hợp giữa đại học và viện nghiên cứu thành kết hợp ba thành phần: đào tạo, nghiên cứu khoa học và sản xuất, kinh doanh. Quan hệ liên kết và tương tác như vậy sẽ vừa giúp tăng cường năng lực cho cả tổ chức đào tạo và tổ chức nghiên cứu, lại vừa nâng cao hiệu quả đóng góp của GD&ĐT và KH&CN cho phát triển kinh tế-xã hội. Thay vì tập trung vào các giải pháp nặng tính hành chính như ghép, sáp nhập, thành lập mới các tổ chức đào tạo và nghiên cứu, nên chú ý tới nhu cầu và nhiệm vụ tự thân của giáo dục đại học là đào tạo phải luôn gắn với nghiên cứu. Từ đó, tập trung tìm giải pháp nâng cao năng lực của cán bộ và tổ chức đào tạo và nghiên cứu; tạo lập khung thể chế và cơ chế chính sách với những các giải pháp đột phá đồng thời với tăng cường đầu tư và đổi mới cơ chế đầu là việc làm cần thiết để tăng cường quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức đào tạo và nghiên cứu trong việc hình thành và phát triển các mối liên kết xuất phát từ bối cảnh hoạt động cụ thể của từng đơn vị .

Với những kiến nghị Hội đồng Chính sách KH&CN Quốc gia đề xuất, hy vọng là việc kết hợp đào tạo với nghiên cứu khoa học và sản xuất kinh doanh ngày càng mở rộng để sự nghiệp KH&CN nước nhà phát triển rực rỡ hơn./.

 
Trung tâm Thông tin Khoa học Công nghệ Quốc gia