Thuốc công nghệ sinh học nhái |
||||||||||||||||||||||||||
| Dạng tài liệu | : | Bài trích bản tin | ||||||||||||||||||||||||
| Ngôn ngữ tài liệu | : | eng | ||||||||||||||||||||||||
| Tên nguồn trích | : | Khoa học Công nghệ Môi trường | ||||||||||||||||||||||||
| Dữ liệu nguồn trích | : | 2005/Số 2/Tham khảo - Tìm hiểu | ||||||||||||||||||||||||
| Đề mục | : |
76 Y học và y tế
62 Công nghệ sinh học |
||||||||||||||||||||||||
| Từ khoá | : | Thuốc ; công nghệ sinh học ; nhái | ||||||||||||||||||||||||
| Nội dung: | ||||||||||||||||||||||||||
|
Sử dụng thuốc được bào chế bằng công nghệ sinh học (thuốc CNSH) có thể tiêu tốn tới hàng trăm nghìn đô la mỗi năm. Những loại thuốc gốc rẻ hơn có thể cứu sống vô số sinh mạng, nhưng để chứng minh cho sự an toàn và hiệu quả của chúng lại là một việc không dễ dàng. Từ khi xuất hiện vào những năm 1980, các loại dược phẩm công nghệ sinh học dựa trên các protein tự nhiên trở nên có ý nghĩa như là ranh giới giữa sự sống và cái chết đối với hàng triệu bệnh nhân điều trị bệnh tiểu đường, ung thư, bệnh sơ cứng nhiều nơi, bệnh tim, và nhiều bệnh di truyền khác. Loại thuốc này cải thiện cuộc sống của hàng triệu người, những người bị viêm đa khớp dạng thấp và bị bệnh Parkinson. Nhưng những loại thuốc "đại phân tử" này cũng đi cùng với giá cao ngất. Interferon beta, thuốc chữa viêm đa khớp dạng thấp, có chi phí từ 10.000 đến 14.000 đô la một năm. Thuốc trị ung thư như Herceptin có chi phí từ 20.000 đến 30.000 đô la. Và giá thuốc dành cho những bệnh hiếm gặp có thể lên tới 200.000 đô la mỗi năm. Abbey Meyers, người sáng lập và là chủ tịch của Tổ chức Quốc gia về Những Rối loạn Hiếm gặp nói: “Con người cần những loại thuốc này để cứu sống tính mạng mình, nếu không có khả năng mua thuốc, họ sẽ chết”.
Pa-tăng cho các loại thuốc CNSH đầu tiên đã lần lượt hết hạn từ 3 năm trước đây, nhưng trên thị tường Mỹ, những dòng thuốc nhái rẻ hơn vẫn thường không xuất hiện ngay sau khi hết thời hạn bảo hộ pa-tăng. Nếu bạn tin vào những lập luận của các công ty CNSH tiên phong như Genentech và Amgen, vấn đề gặp phải là sự phức tạp của các loại thuốc dựa trên protein – hay “thuốc CNSH (biologic)” – làm cho việc sao chép công nghệ trở nên đặc biệt khó khăn. Sao chép không chính xác, các nhà sản xuất thuốc gốc sẽ gặp rủi ro khi đưa ra loại sản phẩm không có tác dụng hay thậm chí có hại đối với bệnh nhân. Nhưng thực tế là một số công ty đã bán thuốc protein nhái, chẳng hạn như ở Trung Quốc và Mỹ Latinh. Liên minh Châu Âu có thể cũng sẽ tiếp bước. Loại thuốc nhái này không xuất hiện ở Mỹ chủ yếu là do không có cơ chế cho việc phê chuẩn và bán các loại thuốc này. Và tất nhiên ngành CNSH đã vận động chống lại việc sản xuất thuốc nhái sinh học. Tuy nhiên thời kỳ của họ có thể sẽ kết thúc. Khi giá thành của các loại thuốc CNSH tăng lên, và số lượng các pa-tăng hết hạn tăng, những người bệnh, những người phải chi trả các chi phí y tế và các nhà sản xuất thuốc gốc đang gây sức ép đòi hỏi phải có sự thay đổi. Rất ít bệnh nhân thực sự có khả năng mua thuốc CNSH, và thậm chí khi có các công ty bảo hiểm hỗ trợ chi phí, thuốc trở thành một gánh nặng không thể kham nổi và ngày càng tăng cho hệ thống y tế. Ví dụ, Chương trình chăm sóc người già trên 65 tuổi của Chính phủ Mỹ tiêu tốn khoảng 1 tỷ đô la mỗi năm để mua erythropoietin, một loại protein được sử dụng để điều trị bệnh thiếu máu cho các bệnh nhân bị ung thư hoặc hư thận. Kaiser Permanente, tổ chức chăm sóc sức khoẻ lớn nhất nước Mỹ, nhận thấy chi phí của họ cho thuốc sử dụng công nghệ sinh học đã tăng gấp ba lần từ năm 1998 đến năm 2003 và dự đoán rằng đến cuối năm 2005, chi phí này sẽ tăng gấp đôi so với hiện tại. Trong tình hình hiện tại, khi mà hy vọng duy nhất của một số bệnh nhân là thuốc có pa-tăng đắt tiền tan biến, cũng là thời kỳ của các loại thuốc "phân tử nhỏ" truyền thống được sử dụng để duy trì cho tới khi thuốc nhái ra đời. Số lượng ngày càng tăng của các nhà sản xuất thuốc nhái truyền thống và các công ty CNSH mới xuất hiện hy vọng phác được một cách chính xác bức tranh về những người đi tiên phong trong công nghệ sinh học. Họ cho rằng các công nghệ mới giúp họ chứng minh rằng những viên thuốc tương tự nhưng rẻ hơn nhiều giống hệt những viên thuốc nguyên gốc, chúng cũng an toàn và hiệu quả như vậy. Các nhà lập pháp và các nhà điều chỉnh chính sách đang quan tâm tới vấn đề này. Vào tháng 6, Uỷ ban Tư pháp Thượng viện đã tổ chức các buổi điều trần về vấn đề này, và Cục quản lý Thực phẩm và Dược phẩm (FDA) đã tổ chức một loạt các cuộc hội thảo vào tháng 9 nhằm đánh giá những rủi ro tồn tại đối với thuốc CNSH nhái và những công nghệ có khả năng làm giảm những rủi ro này. Mặc dù các vấn đề này phức tạp nhưng càng ngày có càng nhiều chuyên gia tin rằng các bệnh nhân Mỹ cuối cùng cũng sẽ điều trị bằng thuốc CNSH nhái.
Vấn đề về protein Các nhà sản xuất thuốc CNSH nhái tương lai phải đối mặt với hai trở ngại lớn trên thị trường Mỹ. Trở ngại lớn nhất là thiếu một khung pháp lý điều tiết các loại thuốc protein nhái. Nhưng vấn đề này lại liên quan tới vấn đề còn lại: làm thế nào để chứng minh rằng thuốc CNSH nhái giống như thuốc nguyên gốc về cả phương diện hoá học cũng như phương diện chữa bệnh. Đối với dược phẩm thông thường như aspirin, hay thậm chí là một số loại thuốc mới nhất như Lipitor hay Viagra, quy trình sản xuất không phức tạp. Các loại thuốc này có thành phần phân tử tương đối đơn giản, mà các nhà sản xuất có thể tổng hợp trực tiếp các phân tử trong phòng thí nghiệm rồi sau đó phân tích hoá học để đảm bảo rằng chúng nguyên chất và giống như thuốc của chính hãng. FDA chấp thuận các loại thuốc nhái dựa trên những phân tích này, cộng thêm một thử nghiệm lâm sàng quy mô nhỏ trên khoảng 30 bệnh nhân, để chứng minh rằng cơ thể con người chuyển hoá thuốc này cũng giống như chuyển hoá các loại thuốc chính hãng. Do các công ty sản xuất thuốc nhái không phải thực hiện các thử nghiệm lâm sàng lớn và tốn kém (hoặc không phải trả cho việc nghiên cứu và triển khai), họ có thể bán thuốc giá rẻ nhưng vẫn thu được lợi nhuận. Ngược lại, thuốc protein có thành phần cấu tạo là các phân tử phức tạp có kích thước lớn. Các nhà hoá học không thể chế ra chúng với giá rẻ, hoặc chỉ có được giá rẻ trong một số trường hợp. Vì vậy thay vào đó, các công ty CNSH biến đổi gen của các vi khuẩn và các tế bào khác để chế ra thuốc. Việc dựa vào các tế bào sống khiến quy trình này không kiểm soát được chất lượng, những thay đổi nhỏ về điều kiện nhiệt độ hay độ tinh khiết có thể đem lại những kết quả không mong đợi, tác động tới hiệu quả của thuốc hay thậm chí gây ra những tác dụng phụ nghiêm trọng. Walter Moore, Phó chủ tịch phụ trách các vấn đề liên quan tới chính phủ của Genentech, Công ty đã sản xuất thuốc insulin tái tổ hợp đầu tiên, cho biết: “Các sản phẩm của chúng tôi được xác định không phải bởi thành phần hoá học của chúng mà bởi quy trình mà qua đó chúng được sản xuất ra". Ở một chừng mực nào đó, FDA dường như cũng đồng ý với điều này. Cục này không chỉ phê chuẩn thành phẩm của thuốc CNSH mà cả quy trình sản xuất ra chúng. Quy trình này được cấp một pa-tăng riêng hoặc được đăng ký dưới dạng bí mật kinh doanh. Tuy nhiên, không có gì bác bỏ việc sản xuất dập khuôn thuốc protein. Nhiều chủng loại thuốc được cấp pa-tăng thuộc loại erythropoietin, insulin, thuốc tăng trưởng hoocmôn, và interferon beta được bán tại Mỹ. Nhưng mỗi chủng loại thuốc lại khác biệt một chút so với các loại khác và đều đã qua mọi thử nghiệm lâm sàng cần thiết đối với một loại thuốc mới – một tiêu chuẩn mà một số nhà phát minh CNSH yêu cầu mỗi loại thuốc protein, dù là thuốc chính hãng hay thuốc nhái, đều phải đáp ứng. Tuy nhiên, các công nghệ mới có thể cải thiện độ chính xác của các đặc tính protein, giúp tách các sản phẩm CNSH ra khỏi các quy trình từng dùng để tạo ra chúng – và có thể giảm số lượng thử nghiệm lâm sàng cần thiết. Các công ty thuốc nhái, chẳng hạn như Teva của Israel và GeneMedix của Anh, sử dụng các công nghệ phân tích được cải tiến và các phần mềm máy tính để mô tả một cách chính xác cấu trúc 3 chiều của các protein. Những cấu trúc này – sản phẩm của một chuỗi cực kỳ phức tạp của các kết cấu xoắn và cuộn khi các protein được sản xuất trong tế bào - ảnh hưởng lớn tới hiệu quả, khả năng và các hiệu ứng phụ của các phân tử protein. Các công ty mới như Momenta Pharmaceuticals của Mỹ và Procognia của Anh đã phát triển các công nghệ nhằm nghiên cứu tỉ mỉ một nguyên nhân khác trong sự biến đổi thất thường của protein: các phân tử đường thường bám vào các protein trong quá trình sản xuất. Các enzim bổ sung đường vào protein trong tế bào động vật có vú và con người tuân theo những quy luật mà dường như thay đổi theo qua trình phát triển của các tế bào. Vì vậy, việc xác định được số lượng và loại đường bám vào một protein đặc biệt nào đó là một thách thức to lớn. Công ty Momenta đã kết hợp các enzim thuộc quyền sở hữu, các công nghệ phân tích truyền thống, và các thuật toán máy tính đặc dụng để lập chính xác bản đồ của các loại đường đó. Procognia sử dụng các mảng, giống như các con chip phân tích các chuỗi gen hay tính hoạt động của gen, để làm việc tương tự. Alan Crane, Giám đốc điều hành của Momenta nói: “Nhìn từ góc độ kỹ thuật, tôi tin là có khả năng mô tả protein một cách đầy đủ. Nếu bạn có thể chỉ ra là chúng giống nhau, vậy thì đâu là lập luận không cho phép sản xuất thuốc nhái?” Cơ chế quan liêu đối với thuốc CNSH nhái Ngoài những tranh luận về công nghệ, nhiều người còn cho rằng Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm thậm chí không có đủ thẩm quyền để thông qua hầu hết các loại thuốc CNSH nhái. Khi bộ luật đối với thuốc phổ dụng của Mỹ được thông qua vào những năm 1980, các loại thuốc công nghệ sinh học phức tạp mới không được đưa ra thảo luận. Janice Reichert, nhà nghiên cứu tại Trung tâm Nghiên cứu Phát triển Dược phẩm Tufts nói: “Vào thời điểm họ thảo luận, không ai nghĩ là công nghệ lại tiến bộ tới mức có thể chế tạo được thuốc CNSD nhái”. Vì vậy, luật hiện hành dành cho thuốc nhái chỉ áp dụng đối với loại thuốc thông thường, không áp dụng cho thuốc CNSH. Trong nỗ lực cải thiện quyền lợi sử dụng thuốc của người bệnh vào năm 2003, FDA đã thông báo kế hoạch đưa ra các hướng dẫn thực hiện để bắt đầu xác định một quy trình phê duyệt thuốc protein nhái, nhưng cho đến nay các hướng dẫn đó đã bị hoãn lại hai lần – có thể là bởi vì sự không rõ ràng của cơ quan nay về địa vị pháp lý của mình. Các nhà quản lý đã chỉ ra rằng thậm chí các hướng dẫn thực hiện này cũng chỉ áp dụng được đối với một số ít loại thuốc công nghệ sinh học: các protein tương đối đơn giản, được xác định rõ ràng, chẳng hạn như hooc môn tăng trưởng và insulin. (trên thực tế, Sandoz, chi nhánh sản xuất thuốc phổ dụng của Công ty dược phẩm Novartis của Thuỵ Sĩ đã nộp đơn xin sản xuất hooc môn tăng trưỏng phổ dụng lên FDA vì tin rằng FDA có thẩm quyền để giải quyết). Giải pháp đơn giản nhất là việc mở rộng luật hiện hành đối với thuốc nhái nhằm điều chỉnh toàn bộ thuốc có chứa protein. . Các công ty CNSH chắc chắn sẽ chống lại dự luật này, cũng giống như các nhà sản xuất thuốc truyền thống phản đối việc sản xuất thuốc phổ dụng truyền thống. Nhiều lập luận hiện tại lặp lại những gì đã tranh luận cách đây hai thập kỷ. Chẳng hạn, các công ty quả quyết rằng protein dập khuôn sẽ làm giảm trầm trọng tổng doanh thu, làm cho các nghiên cứu tốn kém để phát triển các loại thuốc mới cứu sống con người sẽ bị chậm lại hay thậm chí là bị ngưng trệ. Tuy nhiên, tốc độ phát minh của các thuốc truyền thống không hề chịu sự tác động như vậy. Thực sự là thuốc nhái đã buộc các công ty dược phẩm phải nghiên cứu cải tiến, chẳng hạn như các công thức thuốc có thời gian điều trị ngắn hoặc có tác dụng lâu dài, nhằm nỗ lực duy trì thị phần. Trong thời gian này, FDA đã bắt đầu một loạt các hội thảo công khai để đánh giá công nghệ hiện có và thu thập thông tin phản hồi từ các đối tượng chịu tác động. Hội thảo đầu tiên, được tổ chức vào tháng 9 nhằm giúp các nhà quản lý đánh giá các luận cứ khoa học, trở thành một cuộc tranh luận giữa hai phe đối lập là các công ty đi tiên phong trong CNSH và các nhà sản xuất thuốc CNSH nhái. FDA cho tới nay vẫn kín tiếng về hình thức mà các quy định được ban hành và đã lên kế hoạch cho một cuộc hội thảo thứ hai vào đầu năm 2005. Nhưng ngay cả khi thuốc CNSH nhái thực sự có mặt ở Mỹ, bệnh nhân và các công ty bảo hiểm có thể sẽ không tiết kiệm được nhiều như đối với trường hợp của thuốc nhái thông thường. Crane, làm việc tại Momenta phát biểu: “Giá thuốc có thể sẽ không giảm nhiều vì vẫn còn nhiều trỏ ngại ở những bước đầu tiên.” Giá thuốc nhái thấp hơn – thường là 50-66% so với thuốc chính hãng – có được xuất phát từ quá trình phê chuẩn đi tắt và từ thực tế là nhiều bang buộc các hiệu thuốc phải bán cả thuốc nhái, vì vậy các nhà sản xuất có thể bỏ qua công đoạn tiếp thị tốn kém. Thuốc CNSH nhái gần như chắc chắn sẽ phải trải qua các yêu cầu thử nghiệm nghiêm ngặt hơn trước khi được phê chuẩn, ít nhất là cho đến khi FDA tin tưởng rằng các protein dập khuôn được phân tích đủ chi tiết để chứng tỏ rằng chúng giống như thuốc chính gốc. Và thuốc CNSH chủ yếu được phân phối trong bệnh viện hơn là bán tại các hiệu thuốc. Điều này khiến các công ty sản xuất thuốc nhái sẽ phải đối mặt với một cuộc chiến đầy khó khăn nhằm thuyết phục các bác sĩ về độ an toàn và tính hiệu quả của các loại thuốc của mình, điều này có nghĩa là chi phí tiếp thị sẽ lớn hơn. Tuy nhiên, Carole Ben-Maimon, Chủ tịch của Công ty NCPT thuốc CNSH nhái Duramed cho biết, chỉ bằng một con tính đơn giản có thể thấy trong dài hạn, thuốc CNSH nhái - đặc biệt là các loại thuốc như insulin và hoocmôn tăng trưởng – có thể giảm giá còn một nửa. John Langstaff, Giám đốc điều hành của Công ty thuốc CNSH nhái Cangene của Canađa, cũng tin rằng đối với một số loại thuốc, giá có thể giảm đến 40% . Một số khác cho rằng giá giảm 10-20% thực tế hơn. Cho dù chưa phải là lý tưởng nhưng giảm giá 10% là rất đáng kể đối với các loại thuốc mà chi phí lên đến hàng chục ngàn đôla mỗi năm. Thuốc CNSH nhái chắc chắn sẽ có mặt tại Mỹ trong vòng 5 năm tới. Bằng cái nhìn lạc quan nhất đối với tương lai của thuốc CNSH nhái, bệnh nhân tiểu đường sẽ có thể kiểm soát được tình trạng bệnh của mình với chi phí hàng ngày chỉ bằng chi phí uống một cốc cà phê, bệnh nhân ung thư sẽ có thể chống lại bệnh tật của mình mà không làm gia đình phải lâm cào cảnh túng quẫn. Chi phí thấp hơn cũng có thể khiến các hãng bảo hiểm sẵn sàng chi trả cho thuốc CNSH hơn, giúp mở rộng khả năng tiếp cận của người dân đối với thuốc CNSH. Khi số lượng các loại thuốc protein tăng lên, thuốc CNSH nhái trở nên không chỉ hữu ích mà còn cần thiết, khởi nguồn cho một cuộc cách mạng công nghệ sinh học mới. |
||||||||||||||||||||||||||
