Nhân tố ảnh hưởng đến công nghiệp nông thôn Trung Quốc và Việt Nam từ cách nhìn của các nhà nghiên cứu phương Tây |
||
| Dạng tài liệu | : | Bài trích bản tin |
| Ngôn ngữ tài liệu | : | eng |
| Tên nguồn trích | : | Khoa học Công nghệ Môi trường |
| Dữ liệu nguồn trích | : | 2005/Số 2/Dự báo - Chiến lược – Chính sách |
| Đề mục | : | 68 Nông nghiệp và lâm nghiệp |
| Từ khoá | : | công nghiệp nông thôn ; Trung Quốc ; Việt Nam |
| Nội dung: | ||
|
Trung Quốc và Việt Nam đều tiến hành chuyển đổi nền kinh trong điều kiện sản xuất nông nghiệp và xã hội nông thôn rộng lớn; đường lối phát triển ở cả hai quốc gia đều hướng vào đẩy mạnh công nghiệp hoá, bắt đầu từ giải phóng lực lượng sản xuất nông nghiệp. Tuy nhiên, trong quá trình phát triển công nghiệp, các nhân tố ban đầu và phương thức thực hiện ở mỗi nước lại có những nét riêng nên kết quả cũng rất khác nhau. Từ những tư liệu tham khảo của tổ chức OECD và những công trình nghiên cứu công bố gần đây, bài viết đề cập đến một số khác biệt trong những nhân tố ảnh hưởng đến công nghiệp nông thôn (CNNT) ở 2 nước trong những năm khởi đầu để cùng trao đổi Nghiên cứu những tác nhân thúc đẩy phát triển CNNT, David O’Cornor cho rằng: Trong một xã hội nặng về nông nghiệp, sự phát triển công nghiệp nông thôn sẽ phụ thuộc trước hết vào giá trị thặng dư nông nghiệp tạo ra có thể đầu tư và việc duy trì khả năng này ở khu vực nông thôn. Ngoài ra, chính sách của Nhà nước, nhất là về thuế khoá sẽ mang lại những tác động tích cực hoặc tiêu cực, nhiều khi còn có ảnh hưởng lớn hơn cả việc tiếp nhận tín dụng trong điều kiện thị trường. Khi trình độ phát triển còn thấp, theo ông, thặng dư nông nghiệp tạo ra có thể được sử dụng trực tiếp vào cải thiện công nghệ sản xuất. Ban đầu, gia tăng thu nhập và tiết kiệm nông thôn thường được đầu tư vào kênh xây dựng, nhưng theo thời gian sẽ chuyển dần vào đầu tư phát triển các hoạt động kinh tế. ở đây, thể chế tín dụng nông thôn đóng vai trò trung gian phân phối quan trọng. Nếu thị trường tín dụng đủ khả năng tích hợp, việc cung cấp vốn đầu tư sẽ phụ thuộc mạnh vào tiết kiệm rút ra từ thu nhập địa phương. Đây sẽ là cơ sở tạo thuận lợi để tạo lập và phát triển các doanh nghiệp ở nông thôn. Phân tích thu nhập và tiết kiệm ở nông thôn Trung Quốc và Việt Nam, các nhà nghiên cứu trong tổ chức OECD nhận thấy; cả hai nước đều là những nước nghèo trước cải cách và đổi mới. Năm 1978, thu nhập bình quân đầu người ở nông thôn TQ đạt 110 USD; tương tự, ở VN, năm 1993 đạt 85USD/năm. Với bình quân này, mức tiết kiệm trong nông thôn TQ đạt 13,2% trước cải cách và ở VN là 18% vào năm 1993. Công cuộc cải cách ở cả 2 quốc gia đều từ giải phóng thị trường lúa gạo và nông sản khỏi giá có kiểm soát, việc làm này đã thúc đẩy mạnh buôn bán nông sản. Tuy nhiên kết quả mang lại có những khác nhau. Nhờ giá bán lẻ hàng công nghiệp ở TQ đã giảm tương đối nhanh so với giá mua nông sản (từ 1978 đến 1984 giảm khoảng 30%), nên thị trường nông sản đã mở rộng được nguồn vốn chuyển giao từ công nghiệp sang khu vực nông thôn. Thực tế này đã đưa tiết kiệm của các hộ nông thôn TQ trong giai đoạn 1978-1985 tăng 10 lần, đạt bình quân 25USD/người với tổng số 20 tỷ USD. Khác với Trung Quốc, vào thời điểm những năm 1980, Việt Nam chưa tăng cường thương mại hoá. Năm 1994, giá lương thực trên thị trường gia tăng, nhưng đến năm 1996, giá tương đối của nông sản so với giá hàng công nghiệp hầu như không thay đổi so với bắt đầu đổi mới. Mặt khác, thị trường tài chính bị khu biệt cao (highly localised) nên tổng tín dụng chính thức còn bị lệ thuộc vào các trung gian môi giới và mức độ phát triển của từng địa phương nên đã ảnh hưởng nhiều đến tiết kiệm và đầu tư cho CNNT. Thực tiễn trên đây đã dẫn đến một kết quả là, tiết kiệm quốc dân ở TQ đã vượt quá 35% GDP trong giai đoạn đầu cải cách, còn ở VN đến năm 1990 mới đạt 10% và năm 1993 ở mức 17,4%. Ở cả 2 nước, khi chuyển đổi nền kinh tế, các doanh nghiệp công nghiệp nhà nước đều có tiềm lực lớn mạnh hơn nhiều các doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Những doanh nghiệp nhà nước được hưởng những ưu tiên, trợ cấp, cho vay từ các ngân hàng nhà nước. Ưu đãi của Nhà nước đã nâng vốn cố định tính theo đầu người của các doanh nghiệp nhà nước lên cao gấp 9 lần doanh nghiệp hương trấn ở Trung quốc; còn ở VN, tỷ lệ này so với doanh nghiệp ngoài nhà nước cao gấp trên 10 lần, trong đó, doanh nghiệp CNNT chỉ bằng 25% so với công nghiệp ngoài nhà nước ở thành phố. Có thể nói, vốn đầu tư cho CNNT là một hạn chế lớn trong phát triển khu vực này nhiều năm qua ở VN. Về thị trường tín dụng nông thôn. Sự khác biệt lớn giữa TQ và VN được thể hiện rõ ở trình độ tiền tệ trong nền kinh tế thông qua các trung gian tài chính. Trong cùng thời gian, lượng tiền mặt lưu thông ngoài ngân hàng của VN cao gấp 3 lần TQ. Tín dụng nội địa ở VN được mở rộng trong giai đoạn 1992-1996, nhưng đến những năm sau này mới đạt tỷ lệ 21,4%GDP; trong khi TQ đã đạt được 90% GDP từ năm 1995. Khởi đầu công cuộc cải cách, cả TQ lẫn VN đều chưa phát triển thiết chế tín dụng nông thôn. Tín dụng phi chính thức tồn tại ở nhiều vùng nông thôn chủ yếu cho tiêu dùng và vay ngắn hạn. Quá trình tự do hoá sản xuất và tiêu thụ nông sản đã kích thích gia tăng thị phần tín dụng nông thôn, song mức độ giữa hai nước cũng lại có nhiều khác biệt. Tại TQ, các doanh nghiệp hương trấn (TVEs) là những đơn vị sở hữu tập thể, được chính quyền địa phương bảo lĩnh vay ngân hàng để đổi mới, hiện đại hoá công nghệ và phát triển sản xuất. TVEs có thể mở rộng hoạt động tài chính thông qua các hợp tác xã tín dụng nông thôn. Trong quá trình cải cách, tiền gửi của các doanh nghiệp công nghiệp nông thôn vào các HTX tín dụng ở TQ đã từ 33% năm 1978 lên 82% vào năm 1992. Tín dụng hợp tác đã trở thành nguồn đầu tư chủ yếu của CNNT TQ, tỷ trọng nguồn vốn này đã đạt trên 2/3 tổng đầu tư từ những năm đầu thập niên 1990. Khác với TQ, thiếu phát triển thị trường tín dụng nông thôn có thể là một trở ngại trong đầu tư phát triển CNNT ở Việt Nam. Tỷ lệ tiết kiệm thấp là một hạn chế, song hạn chế về thiết chế của các trung gian tài chính có thể lại là vấn đề lớn hơn. Những năm đầu thập niên 1990, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn VN được dành khoảng 5% cho tín dụng nông thôn, 95% còn lại dồn cho các doanh nghiệp nhà nước; trong khi những kết quả điều tra cùng thời gian chỉ ra, 44% doanh nghiệp nông thôn thiếu vốn và trên 80% doanh nghiệp thành lập bằng vốn tự có với 72% vay mượn từ các nguồn không chính thức. Cùng với những vấn đề tài chính, thị trường sản phẩm cũng là nhân tố chi phối lớn đến phát triển CNNT. Những kết quả phân tích cho thấy, thị trường đầu vào của sản xuất và đầu ra của sản phẩm đã ảnh hưởng quyết định đến mức độ tăng trưởng của các doanh nghiệp CNNT. Từ những kết luận rút ra thì, CNNT Trung Quốc có sự tăng trưởng cao ở vùng duyên hải; năm 1988, 3 tỉnh ven biển chiếm 17% dân số nhưng đã tạo ra 1/2 giá trị phẩm đầu ra của công nghiệp hương trấn cả nước. ở các vùng ven đô thị lớn, công nghiệp nông thôn có điều kiện phát triển thuận lợi nhờ vào quan hệ thị trường thầu lại từ các doanh nghiệp đô thị. Tại 3 thành phố trực thuộc TW của TQ (Bắc Kinh, Thượng Hải và Tianjin) từ 60 đến 80% sản phẩm làm ra của CNNT là từ các hợp đồng thầu lại. Nhận xét này cũng khá phù hợp với thực tiễn công nghiệp nông thôn VN ở các tỉnh Bắc Ninh, Hà Tây và miền Đông Nam Bộ nơi kề liền với các thành phố lớn. Những kết quả phân tích cũng đã chỉ ra, thị trường nội địa là lối ra chủ yếu của công nghiệp nông thôn. Tại Trung Quốc, ở các tỉnh miền duyên hải, nơi có CNNT phát triển, thâm nhập được sâu vào thị trường xuất khẩu thì đến năm 1995 mới có khoảng 9% giá trị sản phẩm làm ra là nguồn thu xuất khẩu, còn ở VN, trong những năm của thập niên 1990, giá trị xuất khẩu của CNNT chỉ dao động quanh 1% sản phẩm làm ra. Thuế và những chính sách địa phương được coi là những nhân tố quan trọng đối với phát triển công nghiệp nông thôn. ở Trung Quốc, Chính phủ TW đã khích lệ công nghiệp nông thôn thông qua chính sách tái đầu tư cho doanh nghiệp nhờ vào những ưu đãi từ thuế. Thời gian đầu từ 1978 đến 1983, các doanh nghiệp nông thôn được hưởng những đặc ân, mức thuế doanh nghiệp phải nộp không quá 20%, thấp hơn nhiều so với doanh nghiệp nhà nước. Cùng với thuế thấp, chính sách còn quy định từ 30 đến 40% lợi nhuận sau thuế dành cho chính quyền địa phương để tạo nguồn tài chính cho cộng đồng. Những năm sau này, khi kinh tế tư nhân và hợp tác xã mở rộng, trong khoảng thời gian không dài, các doanh nghiệp thuộc những thành phần này đã chiếm 1/3 số DN CNNT, họ cũng được hưởng mức thuế thấp và không chịu sự kiểm soát trực tiếp của chính quyền địa phương về lợi nhuận. ở VN, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra, hệ thống thuế cho doanh nghiệp nông thôn ngoài nhà nước không có gì đặc biệt, mức thuế phải nộp giữa doanh nghiệp thành thị và nông thôn có mức chênh lệch nhỏ, thuế lợi nhuận không luỹ tiến. Tuy nhiên trong thực tế, nhiều doanh nghiệp và hộ sản xuất nhỏ lẩn tránh và cũng từ đây đã nảy sinh những vấn đề tiêu cực về lệ phí và các khoản thu khác. Đây là vấn đề cần được nghiên cứu để có chính sách thực sự khuyến khích phát triển CNNT. Thay cho lời kết. Từ thực trạng và xu thế phát triển công nghiệp nông thôn của hai nước có điều kiện tương tự trong giai đoạn đầu của quá trình chuyển đổi nền kinh tế, thông qua những phân tích của các nhà nghiên cứu phương Tây có thể thấy, dường như quá trình phát triển công nghiệp nông thôn ở Việt Nam còn là việc làm của riêng ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn; ở tầm vĩ mô, chính sách quốc gia về mặt này chưa cụ thể, thiếu một cơ chế và tổ chức điều hành tổng hợp đủ sức phối hợp các ngành có liên quan đặc biệt là công nghiệp và tài chính để mở mang phát triển theo một quy hoạch phù hợp trong thực tế phát triển đất nước. Thành Ý |
||
