“Thiền định” với sức khoẻ và cuộc sống |
||
| Dạng tài liệu | : | Bài trích bản tin |
| Ngôn ngữ tài liệu | : | eng |
| Tên nguồn trích | : | Khoa học Công nghệ Môi trường |
| Dữ liệu nguồn trích | : | 2005/Số 1/Tham khảo - Tìm hiểu |
| Đề mục | : | 34.39 Sinh lý người và sinh lý học động vật |
| Từ khoá | : | Thiền định ; sức khoẻ |
| Nội dung: | ||
|
Con người, ai cũng mong muốn sống mạnh khỏe, vui vẻ. Khi còn trẻ có sức khoẻ thì còn nhiều ham muốn khác, càng về già khi mà sức khoẻ và sức lực đã suy giảm thì mọi ham muốn dần dần cũng mất đi, chỉ còn lại mong muốn là sống được khỏe mạnh, vui vẻ và đến khi ra đi được nhẹ nhàng thanh thoát. Những người không có sức khỏe và sức mạnh thì càng mong muốn được sống khoẻ mạnh và vui vẻ. Vì thế mà con người đi tìm nhiều cách để được sống vui vẻ, đọc sách, làm thơ, đến đền chùa, nhà thờ, đi du lịch… tất cả cũng là để được thư giãn. Một trong các cách thư giãn tốt nhất là “Thiền định”. Vậy “Thiền định” là gì và tác dụng của nó như thế nào? Thiền định là gì? Theo định nghĩa thông thường: “Thiền” là một kiểu thư giãn chủ động tích cực với hiệu quả cao do luyện tập đúng cách. Theo định nghĩa khoa học: “Thiền là trạng thái sinh lý giữa thức và ngủ, có được do luyện tập. Đó là trạng thái tập trung ức chế đồng đều cả nơron cảm giác lẫn nơron vận động (thay đổi tần số phân cực – khử cực tự nhiên của màng nơron cảm giác lẫn nơron vận động); tập trung bắt đầu từ vỏ não chuyển xuống ức chế các trung khu hô hấp. Đó là trạng thái nửa thức nửa ngủ” Theo định nghĩa Thiền thông dụng cho ta thấy: - Thiền bao gồm thư giãn - Thư giãn chủ động, không thụ động như nghỉ ngơi, tham quan du lịch, ngắm nhìn trăng… - Chủ động do người tập Thiền không phụ thuộc vào điều kiện môi trường cũng vì thế Thiền rất chủ động và rất tích cực do con người tự điều khiển. - Hiệu quả của Thiền lớn hơn thư giãn rất nhiều. Khác với thư giãn thông thường, Thiền có tác dụng điều chỉnh lớn đến mọi hoạt động của cơ thể, làm cân bằng nội môi, cần bằng cơ thể với môi trường sống, vì thế ngoài tác dụng thư giãn Thiền còn có tác dụng phòng bệnh và chữa các bệnh chức phận do mất cân bằng các chức năng cơ thể mà chủ yếu là mất cân bằng giữa tuần hoàn máu và tuần hoàn điện thần kinh. Định nghĩa khoa học cũng cho ta thấy tác dụng thư giãn của Thiền là do ức chế vỏ não có nghĩa là thư giãn. Thư giãn do người luyện tập Thiền điều khiển vỏ não, chủ động ức chế hệ thần kinh động vật từ đó dẫn đến ức chế hệ thần kinh thực vật mà trước tiên là các trung khu hô hấp làm giảm nhịp thở đi đôi với buông lỏng cơ. Do ức chế hệ thần kinh động vật (điều khiển ý thức và vận động ý thức) và hệ thần kinh thực vật (điều khiển các hoạt động tự động) tức là ức chế hệ cơ vận (cơ xương) làm thư duỗi cơ, giảm nhịp thở do ức chế trung khu hô hấp đi đôi với thư giãn cơ. Khi đã ức chế sâu, thư giãn cơ sâu thì nhịp thở rất thấp, năng lượng tiêu hao xuống tối thiểu, cơ thể rơi vào tình trạng đông miên, hô hấp trên từng tế bào cơ thể đều giảm tối thiểu. Tóm lại, qua hai định nghĩa trên đã chứng tỏ Thiền là một phương pháp thư giãn chủ động tích cực nhất với hiệu quả tốt nhất vì nó làm cơ thể giảm tiêu thụ năng lượng, kết quả là giảm hô hấp đến mọi tế bào trong cơ thể vì thế nó điều chỉnh mọi hoạt động cơ thể, cân bằng các hoạt động nên còn có tác dụng chữa bệnh nữa. Nhu cầu của con người với cuộc sống Nhu cầu cho cơ thể – thể chất Con người từ thời sống trong hang động đến ngày nay, nhu cầu cho cơ thể-thể chất ngày càng thay đổi theo hướng tiến lên cùng với sự phát triển của xã hội. Hình ảnh một nhà sư, khoác áo cà sa nâu sòng, chân đất đi khất thực đến nay không còn bao nhiêu, và các nhà tu hành hiện nay không chỉ đi xe máy mà còn đi máy bay. Những nhu cầu cho thể chất gồm: ăn, mặc, ở, phương tiện đi lại… Giới hạn tối đa các nhu cầu này khó xác định vì ngoài nhu cầu đích thực để duy trì phát triển thể chất ở mỗi con người thì nó còn nhiều yếu tố khác chi phối như: ý thích, đòi hỏi của mỗi cá thể, những ham muốn, tâm lý, địa vị, môi trường xã hội… Đối với người không Thiền, đúng là khó xác định được giới hạn này, nói chung hầu như đều có ham muốn sự đầy đủ, hoàn thiện có cả phần xa hoa, các nhu cầu đó lớn hơn rất nhiều, so với nhu cầu đích thực cho từng cơ thể con người. Đối với những người có tập Thiền (không kể các nhà tu hành chân chính) nhu cầu này không lớn, một mặt vì nhu cầu cơ thể sau khi tập Thiền, chuyển hoá cơ thể xuống thấp, tiêu hao năng lượng ít và hợp lý. Do đó người tập Thiền không có nhu cầu lớn cho các sinh hoạt. Mặt khác người tập Thiền có trạng thái tâm lý, tinh thần cũng khác, vì thế sự đòi hỏi không còn mấy. Vấn đề này sẽ được bàn sâu sau này. Giới hạn tối thiểu những nhu cầu cho thể chất mỗi cá thể, khoa học có thể xác định được số calo/ngày cho mỗi người, diện tích ở… Những nhu cầu này ở người tập Thiền ít hơn nhiều so với nhu cầu đích thực mà khoa học đều có thể xác định được. Nhu cầu sinh hoạt tinh thần Những nhu cầu sinh hoạt tinh thần rất phức tạp, khó có thể phân biệt rõ ràng được. Nó là những hậu quả của các mối quan hệ trong lao động chức nghiệp, quan hệ bằng hữu, quan hệ gia đình huyết tộc; những nhu cầu văn hoá, nhu cầu hiểu biết tri thức và xã hội, chính trị nhân văn, lòng tin đức tin… Ta tách biệt ra các nhu cầu tinh thần để dễ tìm hiểu, thực ra những nhu cầu này đều đan xen, cài vào nhau, liên quan chặt chẽ với nhau. Ví dụ: hậu quả không tốt trong quan hệ gia đình huyết thống có trục trặc ảnh hưởng lớn đến cá thể dễ dẫn đến hậu quả không tốt trong mối quan hệ lao động chức nghiệp, trong ứng xử với xã hội… Nói chung, hậu quả không tốt của các yếu tố, nhu cầu tinh thần dễ dẫn đến stress cho cá thể, đặc biệt là hệ thần kinh chịu ảnh hưởng lớn, từ đó tác động đến tinh thần thể chất mỗi người. Người không tập Thiền kém chịu đựng được với stress, ngược lại những người tập Thiền có sức chịu đựng với stress rất cao. Không những thế họ xử lý các mối quan hệ rất hợp lý để tránh được stress. Nhu cầu duy trì nòi giống Đây là một nhu cầu của mọi sinh vật, đồng thời cũng là chức năng quan trọng của con người và sinh vật. Đối với con người, là động vật cao cấp, nó không còn chỉ là chức năng bảo đảm sự sống còn của loài mà nó còn có ý nghĩa đạo lý, luân lý. Nó là nguồn hứng cảm của tâm hồn thơ ca, là nền tảng của xã hội nhân văn. Khác hẳn với tất cả các loài động vật khác, sinh hoạt sinh lý con người không chỉ thoả mãn một chức năng sinh lý, nó còn là sự rung động của trái tim, được thể hiện bằng tiếng nói, ánh mắt, cảm giác, của xúc giác, của cơ quan phát âm… Vì vậy chức năng này mang đầy đủ ý nghĩa tinh thần, vật chất, đạo lý, sinh lý đặc biệt, đỉnh cao của sự tiến hoá sinh vật. Người tập Thiền tốt, luôn ở trong trạng thái cân bằng của hệ thần kinh, họ chủ động điều khiển được hệ thần kinh sinh dục, luôn luôn cân bằng giữa ý thức và tâm thức, có lẽ vì thế chúng ta không thây họ mắc các bệnh tâm sinh lý đặc biệt như bệnh “đồng tính luyến ái” chẳng hạn. Cơ chế tác dụng sinh học của Thiền Tương tác giữa các cơ quan trong cơ thể Cơ quan vận động, hệ cơ xương chiếm đến 40% trọng lượng cơ thể, khi làm việc, vận động càng mạnh thì càng cần nhiều năng lượng và cần nhiều oxy để đốt các chất protid, glucid, lipid cho năng lượng. Để cung cấp đủ oxy trước tiên cơ quan hô hấp phải tăng cường hoạt động bằng cách thở tăng nhịp, khi phổi làm việc nhiều để lấy oxy thì cơ quan tuần hoàn mà cụ thể là tim phải làm việc nhiều bằng cách co bóp tăng nhịp đập, đưa máu lên phổi nhiều hơn giúp gia tăng vận chuyển oxy từ phổi đến cơ quan, tổ chức đặc biệt là cơ bắp. Khi hô hấp và tuần hoàn chưa cung cấp đầy đủ oxy thì năng lượng do sự chuyển hoá từ protid, lipid, glucid để sản sinh ATP cho hoạt động cơ, phải dưới dạng yếu khí nên để lại các chất trung gian hoá học là các lactat... trong cơ và tăng trong máu gây độc cho cơ thể. Hoạt động cơ bắp càng mạnh càng cần nhiều năng lượng, việc sử dụng năng lượng nhiều sẽ gia tăng các gốc tự do làm quá trình lão hoá cơ thể nhanh và cũng gây tác hại xấu cho cơ thể. Tương tác mạnh giữa cơ quan tuần hoàn hô hấp trong quá trình vận động kéo theo các cơ quan khác như bài tiết (mồ hôi), tăng lượng đường trong máu, các chất nội tiết như adrenalin của hệ thống nội tiết… Tóm lại, trong quá trình vận động mạnh có sự tham gia của tất cả các cơ quan của cơ thể theo nhiều đường phản xạ, phản xạ nội tiết thể dịch mà cơ quan điều chỉnh sự tương tác này là hệ thần kinh. Kết quả của Thiền định với nhu cầu thể chất, tinh thần Chúng ta đã biết “Thiền định” có tác dụng: - Giảm tiêu hao năng lượng: nhờ tập Thiền, cơ thể sẽ sử dụng năng lượng thấp và hợp lý nên người ta không đòi hỏi nhiều năng lượng. Bởi vậy đối với người tập Thiền tốt, cơ thể họ không đòi hỏi phải ăn nhiều, mặc dầu khẩu vị của họ rất tốt, ăn rất ngon miệng. Không lấy gì làm lạ, các nhà tu hành chân chính, tập Thiền đạt đến mức tiêu hao năng lượng cơ thể xuống mức tối thiểu. Hàng ngày, họ thường chỉ ăn một bữa vào giữa trưa (chính Ngọ) mà vẫn lao động sinh hoạt bình thường. Chúng ta đã biết, khi ngồi Thiền, các cơ quan trong cơ thể tương tác cân bằng nhau ở mức chuyển hoá rất thấp, theo định luật phản hồi có tác động đến hệ thần kinh đưa ra trạng thái tâm sinh lý của người Thiền. Hệ thần kinh vào trạng thái đặc biệt: “Trạng thái tâm sinh lý của người Thiền”. Đỉnh cao của trạng thái sinh lý này là thời gian ngồi Thiền “nhập Thiền”, nó không chỉ có tác dụng trong lúc ngồi Thiền mà còn kéo dài suốt cả trong ngày. Ngoài thời gian ngồi Thiền, người hành Thiền vẫn duy trì trạng thái ngày bằng cách duy trì trạng thái cân bằng tương tác các cơ quan của cơ thể, được thực hiện bằng những hoạt động nhẹ nhàng tập trung không phân tâm trong suốt cả ngày. Trạng thái tâm sinh lý của Thiền này làm giảm đòi hỏi của con người về các nhu cầu vật chất như: ăn, mặc, ở, phương tiện đi lại… - Sự cân bằng tương tác các cơ quan: chúng ta cũng đã biết sự cân bằng tương tác giữa các cơ quan trong cơ thể ở giới hạn hoạt động thấp đã tác động ngược trở lại hệ thần kinh mà chủ yếu là hoạt động cảm nhận của vỏ não. Định nghĩa khoa học của “Thiền” đã cho ta thấy cơ sở của trạng thái Thiền ở vỏ não là trạng thái ức chế đồng đều các nơron ở vỏ não, đó là hoạt động ức chế (giảm sự phân cực – khử cực toàn thể các nơron của não bộ) toàn thể các cung phản xạ não bộ. Trạng thái ức chế toàn thể các cung phản xạ não bộ sẽ sản sinh ra các chất hoá học (ở các khớp dây thần kinh (synape)) cho một cảm giác đặc biệt của trạng thái Thiền. Biểu hiện của trạng thái hoạt động cua vỏ não ở các người tập Thiền được các nhà khoa học nghiên cứu Thiền đúc kết: Theo giáo sư Soto Yukimasa, Đại học Tokyo Nhật Bản: - Tăng cường tính nhẫn nại; - Làm cho ý chí bền vững; - Tăng cường khả năng suy nghĩ; - Hình thành nhân cách hoàn thiện hơn; - Mau chóng khiến đầu óc tỉnh táo bình tĩnh; - ổn định về tình cảm; - Nâng cao hứng thú và hiệu suất của hành động; - Đạt tới cảnh giới giác ngộ. Theo bác sỹ Hasegawa, Đại học Osaka: - Toạ Thiền cơ thể đồng bộ cơ cấu thể chất; - Toạ Thiền phát triển sự tập trung của phần não bên trong tức là phần dưới vỏ não và tập trung sự hoạt động của vỏ não. Theo Thiền sư Tasen Deshimaru, Nhật Bản: - Sự mềm dẻo về cơ thể gia tăng, thân xác trở nên nhanh nhẹn, nhẹ nhàng; - Tâm trí được yên tĩnh an vui và trở nên bền nhạy mẫn tiệp; - Chúng ta có thể thấu hiểu “bản ngã” của mình, bộc lộ tinh thần tôn giáo chân chính và có được đức tin to lớn; - Chúng ta hưởng được cuộc đời thanh thoát; - Trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta có thể sống an nhàn, ngay thẳng, đức hạnh với tâm hồn trong sáng. Theo các nhà tâm thần học, các giáo sư trường Đại học Tokyo: - Toạ Thiền làm tăng “đời sống” và có thể trị bệnh làm hết mệt mỏi; - Toạ Thiền cơ thể làm dịu thần kinh trong chứng suy nhược thần kinh, cũng như chứng thần kinh phân liệt và các bệnh thần kinh khác; - Toạ Thiền cơ thể phát triển và tăng cường ý chí, tạo năng lực và củng cố tinh thần; - Toạ Thiền có thể điều hoà và hoàn thiện nhân cách con người. Mục đích cao nhất của toạ Thiền là cơ thể chuyển mê thành ngộ. Theo tài liệu của Viện Đại học Cologne (Đức): - Bớt nóng tính, giảm bệnh về tinh thần; - Bớt hung hăng, gân hấn, thêm sức hoà hợp với người khác, thêm hiệu quả; - Giảm sự suy nhược tinh thần, thêm sự tự tin và tự mãn; - Bớt kích thích, cảm xúc, thêm sự chịu đựng trong trường hợp vô vọng; - Thêm tính hợp quần, sốt sắng, thiên thiện với người khác; - Tăng tính quả quyết, thêm tự tin, vui tính; - Giảm bớt tính khống chế người, thêm sự kính nể và thân ái với người khác; - Giảm bớt tính cấm đoán, ngăn cản người khác, thêm kính trọng tự do; - Biết tự chê mình, giảm sự nghi ngờ mình; - Thân cởi mở; - Giảm tính hay thay đổi; - Thêm tính bền bỉ chịu đựng và có khả năng (năng lực). Tóm lại, những nghiên cứu của các tác giả gần giống nhau về trạng thái hoạt động của hệ thần kinh người tập Thiền. Đó là trạng thái yên tĩnh ổn định không xung đột của hệ thần kinh được biểu hiện như: nhẫn nại, bền bỉ, tự tin, bình tĩnh, ổn dịnh nhân cách, hoàn thiện tình cảm, đầu óc sảng khoái... được biểu hiện bởi sự ứng xử với mọi người như: thân ái, thân thiện với mọi người, hoà hợp với mọi người, cởi mở kính nể mọi người. Trạng thái yên tĩnh ổn định, với sự ứng xử hợp tình hợp lý với sự việc và con người xung quanh chứng tỏ người tập thiền luôn vui vẻ về tâm hồn và khoẻ mạnh về thể chất. Kết quả của Thiền định với nhu cầu sức khoẻ và phòng chữa bệnh Khi chủ động giảm được tiêu thụ năng lượng, gốc tự do cũng giảm theo, không tăng các lactat trong máu, cân bằng hoạt động tương tác các cơ quan trong cơ thể: - Cơ thể ở trạng thái cân bằng nội môi; - Không tăng các chất gây hại cho cơ thể là các lactat, gốc tự do... mà giảm. Đó là cơ sở giúp thể lực sức lực con người khoẻ mạnh. Chúng ta đã biết khi cơ thể, cơ chất khoẻ mạnh và cân bằng ổn định sẽ tác động trở lại não bộ theo định luật phản hồi tạo trạng thái cân bằng ổn định hoạt động của vỏ não: - Trạng thái cân bằng yên tĩnh; - Sức bền và sức chịu đựng; - Khả năng điều hoà điều khiển cơ thể tốt. Trạng thái thần kinh này giúp con người chống stress tốt. Sức khoẻ thể lực tốt cùng với trạng thái thần kinh ổn định nhạy cảm làm cơ thể thích ứng tốt với môi trường sống và môi trường nhân văn. Đó là nền tảng của cơ sở phòng bệnh tốt. Nếu các cơ quan tương tác cân bằng được duy trì thì cơ thể không xảy ra những tai biến bất thường. Ví dụ: nếu tương tác giữa cơ quan tuần hoàn máu và tuần hoàn điện thần kinh được ổn định thì thường không xảy ra các tai biến não gây liệt chẳng hạn. Tương tác giữa hai hệ tuần hoàn luôn dao động và luôn giữ thế cân bằng. Thiền giúp cơ thể cân bằng với môi trường bên ngoài luôn biến động, một trong các nguyên nhân của stress là mất cân bằng giữa cơ thể với môi trường xã hội nhân văn. Giữ được tương tác cân bằng các cơ quan, người ta sẽ sống vui, sống khoẻ, không hay gặp các tai biến và khi về già ra đi một cách nhẹ nhàng và thanh thản. Kết luận Sau mỗi cuộc vui chơi giải trí, thư giãn, người ta thấy vui vẻ và thanh thản, Thiền tạo thư giãn chủ động không lệ thuộc môi trường, điều kiện nào cả, vì thế Thiền định sẽ làm con người rất vui và hết sức sảng khoái. Tập Thiền định giúp cơ thể cân bằng thể chất và hoạt động thần kinh, giúp con người tự cân bằng nội tại và cân bằng với môi trường vật chất cũng như môi trường xã hội, chống được stress. Đó là cơ sở của sức khoẻ và vui vẻ trong cuộc sống, không hay gặp các tai biến và khi về già sẽ ra đi một cách nhẹ nhàng thanh thản. GS-TS. Nguyễn Ngọc Kha |
||
