Năng lượng thế giới |
||
| Dạng tài liệu | : | Bài trích báo |
| Tác giả | : | Nguyễn Minh Trí, VECP |
| Tên nguồn trích | : | Khoa học Công nghệ Môi trường |
| Dữ liệu nguồn trích | : | 2004/Số 4/Tham khảo-tìm hiểu |
| Đề mục | : | 44 Năng lượng học |
| Từ khoá | : | Năng lượng |
| Nội dung: | ||
|
Năng lượng là một vấn đề quan trọng, có tác động to lớn đến sự phát triển kinh tế xã hội của tất các nước trên thế giới. Những cuộc khủng hoảng năng lượng trong các thập kỷ đã qua là minh chứng xác thực cho tác động đó. Tiêu thụ năng lượng toàn cầu: Theo "Triển vọng năng lượng quốc tế 2002" (IEO2002), tiêu thụ năng lượng của thế giới dự báo sẽ tăng 60% trong thời gian 21 năm, kể từ 1999 đến 2020 (thời kỳ dự báo). Tiêu thụ năng lượng của thế giới sẽ tăng từ 382 Penta (Quadrillion:1015) BTU (năm 1999) đến 612 Penta BTU (năm 2020). Xem biểu đồ. Đặc biệt, nhu cầu năng lượng của các nước đang phát triển ở châu Á và Trung Nam Mỹ, dự báo có thể sẽ tăng gấp hơn bốn lần trong thời gian từ 1999 tới 2020, chiếm khoảng một nửa tổng dự báo gia tăng tiêu thụ năng lượng của thế giới và khoảng 83% tổng gia tăng năng lượng của riêng thế giới đang phát triển. Tiêu thụ dầu: Trong nhiều thập kỷ qua, dầu đã từng là nguồn năng lượng sơ cấp chủ yếu của thế giới và dự báo nó sẽ còn tiếp tục giữ được vị trí này, chiếm 40% tổng tiêu thụ năng lượng của thế giới trong suốt thời kỳ từ 1999 tới 2020. Trong thời kỳ này, dự báo tiêu thụ dầu của thế giới sẽ tăng khoảng 2,2%/năm, từ 75 triệu thùng/ngày (năm 1999) lên 119 triệu thùng/ngày (năm 2020). Mặc dù các nước công nghiệp hoá vẫn tiếp tục tiêu thụ nhiều sản phẩm dầu hơn các nước đang phát triển, song khoảng cách này đang thu hẹp khá nhanh. Năm 1999, các nước đang phát triển chỉ tiêu thụ 58% lượng dầu các nước công nghiệp hoá tiêu thụ; nhưng đến năm 2020, dự báo các nước này sẽ tiêu thụ tới 90% lượng dầu tiêu thụ bởi các nước công nghiệp hoá. Dự báo sự tăng tiêu thụ dầu ở các nước công nghiệp hoá chủ yêú sẽ xảy ra trong lĩnh vực giao thông vận tải, nơi hiện tại chưa có nguồn nhiên liệu thay thế nào có thể cạnh tranh được với dầu. Trong các nước đang phát triển, nhu cầu về dầu dự báo sẽ tăng trong tất cả các ngành vì cơ sở hạ tầng năng lượng ở các nước này đang được hoàn thiện, nên nhân dân các nước này đang chuyển từ sử dụng các nhiên liệu truyền thống như củi để sưởi ấm, nấu nướng sang điện, gas...Ngoài ra các sản phẩm hoá dầu cũng đang được sử dụng trong công nghiệp. Tiêu thụ khí đốt tự nhiên: Khí đốt tự nhiên (KĐTN)được dự báo là nguồn năng lượng có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất, tăng gần gấp đôi trong thời kỳ dự báo, và đạt tới 460 tỷ m3 vào năm 2020. Lần đầu tiên tiêu thụ KĐTN vượt qua tiêu thụ than đá vào năm 1999, dự báo vào năm 2020, sẽ vượt mức tiêu thụ than khoảng 38%. Tỷ lệ tiêu thụ KĐTN trong tổng tiêu thụ năng lượng, dự báo sẽ tăng từ 23% năm 1999 lên 28% năm 2020. KĐTN cũng sẽ chiếm phần gia tăng lớn nhất để sử dụng trong phát điện, và chiếm khoảng 43% tổng gia tăng năng lưọng dùng trong phát điện. Sử dụng KĐTN tăng nhanh là do nhu cầu dùng làm nhiên liệu có hiệu suất cao trong các nhà máy điện sử dụng các tua-bin khí mới,và còn do một số các nguyên nhân khác như giá cả, tác động môi trường, đa dạng hoá nhiên liệu, an ninh năng lượng, và sự tăng trưởng kinh tế nói chung v.v... Trong thế giới đang phát triển, việc gia tăng sử dụng KĐTN có tốc độ cao nhất, với tốc độ tăng trung bình hàng năm trong suốt thời kỳ dự báo là 5,3%/năm, nhằm đáp ứng nhu cầu phục vụ phát điện và phát triển công nghiêp. Tiêu thụ than: Khoảng 65% tiêu thụ than của thế giới là để phát điện. Tiêu thụ than của thế giới đã bắt đầu gia tăng chậm kể từ thập kỷ 80 và dự báo xu hướng này sẽ còn tiếp tục trong suốt thời kỳ dự báo, với tốc độ tăng trung bình hàng năm là 1,7%/năm. Năm 1999, than cung cấp 22% tiêu thụ năng lượng sơ cấp của thế giới, trong khi năm 1985, con số tương ứng là 27%; dự báo tới 2020, sẽ giảm xuống còn 20%. Tuy nhiên, than vẫn còn chiếm ưu thế trên nhiều thị trưòng năng lượng, đặc biệt là ở Trung Quốc và ấn Độ, tỷ lệ sử dụng than vẫn chiếm tới 83% tổng dự báo tăng tiêu thụ than toàn cầu. Tiêu thụ than cốc dự báo sẽ giảm nhẹ trong hầu hết các khu vực của thế giới vì đã có những tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất thép, tăng được sản lượng của các lò hồ quang điện, và vì sự tiếp tục thay thế thép bằng các vật liệu khác trong các ứng dụng phục vụ người tiêu dùng. Điện hạt nhân: Dự báo công suất điện hạt nhân của thế giới sẽ tăng từ 350 GW (năm 2000) lên 363 Gw vào năm 2010 sau đó sẽ giảm xuống còn 359 GW vào năm 2020. Dự báo tốc độ gia tăng nhanh nhất về phát điện hạt nhân sẽ là ở các nước đang phát triển, với tốc độ tăng trung bình hàng năm là 4,7% trong suốt thời kỳ dự báo. Đặc biệt, ở các nước đang phát triển châu Á, sẽ có sự gia tăng lớn trong công suất phát điện hạt nhân. Ở các nước này, số lò phản ứng đang xây dựng chiếm tới một nửa số lò phản ứng đang xây dựng trên toàn thế giới bao gồm 8 lò ở Trung Quốc, 4 ở Hàn Quốc, 2 ở Ấn Độ và 2 ở Đài Loan. Năng lượng tái tạo: Dự báo sử dụng năng lượng tái tạo sẽ tăng 53% trong thời kỳ dự báo (1999-2020), song tỷ lệ 9% trong tổng tiêu thụ năng lượng hiện tại sẽ giảm nhẹ xuống còn 8% vầo năm 2020. Sự tăng trưởng của các nguồn năng lượng tái tạo sẽ tiếp tục bị hạn chế vì giá tương đối rẻ của nhiên liệu hoá thạch. Năng lượng tái tạo sẽ tăng mạnh chủ yếu nhờ vào các công trình thuỷ điện quy mô lớn, đặc biệt là ở Trung Quốc, Ấn độ, Malaysia và các nước châu Á đang phát triển khác. Ví dụ: Công trình đại thuỷ điện đập Tam Hiệp, 18.200 MW của Trung Quốc; Thuỷ điện Bakun 2.400 MW của Malaysia. Điện năng: Dự báo tiêu thụ điện năng sẽ tăng khoảng 67% trong suốt thời kỳ dự báo, tăng từ 13 ngàn tỷ kWh/năm 1999 lên 22 ngàn tỷ kWh vào năm 2020. Tốc độ tăng trưởng tiêu thụ điện của các nước đang phát triển châu Á sẽ cao nhất, đạt khoảng 4,5%/năm vì với sự tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ, nhu cầu về điện để chạy các máy điều hoà không khí, tủ lạnh, bình đun nước nóng, máy sưởi, các lò điện mới trang bị sẽ tăng lên. Ở các nước công nghiệp hoá, dự báo tiêu thụ điện sẽ tăng chậm hơn, vì tốc độ tăng trưởng kinh tế và dân số chậm hơn và vì thị trường cho một số mặt hàng điện gia dụng (máy điều hoà không khí) đã tương đối bão hoà, và vì hiệu suất năng lượng của các mặt hàng điện gia dụng đã được nâng cao. Trong ngành công nghiệp điện, thời gian gần đây đã xảy ra hai nhân tố phát triển quan trọng, có tác động tới tương lai của ngành này. Đó là: 1) Vai trò đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI) trong các nước đang phát triển đã tăng lên. Nhờ vậy, các nước đang phát triển có thể khắc phục được tình trạng thiếu và yếu về cơ sở hạ tầng kỹ thuật trong ngành điện. 2) Sự cải cách trong ngành điện: nhiều nước đang phát triển đã thực hiện những cải cách đối với sự quản lý về phát điện và phân phối điện nhằm thu hút được nhiều hơn những đầu tư trực tiếp nước ngoài để đáp ứng nhu cầu hiện đại hoá đất nước. Nhiều nước công nghiệp hoá cũng tiến hành cải cách ngành điện nhằm tạo ra cạnh tranh lớn hơn trên các thị trường nội địa để cố gắng giảm chi phí về điện cho người tiêu dùng. Tiêu thụ năng lượng trong giao thông vận tải: Dự báo tiêu thụ năng lượng trong giao thông vận tải sẽ tiếp tục tăng mạnh trong các thập kỷ tới, nhất là ở các nước đang phát triển. Cơ sở hạ tầng giao thông vận tải yếu kém của các nước này sẽ được tăng cường và phát triển nhanh khi các nền kinh tế quốc gia và khu vực được mở rông. Dự báo sử dụng năng lượng trong giao thông vận tải ở các nước đang phát triển sẽ tăng với tốc độ 3,8%/năm, so với 1,7 %/năm ở các nước công nghiệp hoá. Vì ở nhiều nước công nghiệp hoá, phần lớn các hệ thống giao thông vận tải đã được thiết lập ổn định và số ô tô trên đầu người cũng đã đạt tới mức bão hoà. Ở các trung tâm đô thị của các nước đang phát triển, sự sở hữu ô-tô thường được coi là dấu hiệu của sự giàu có. Trong thời kỳ dự báo, số ô-tô trên đầu người ở nhiều nước đang phát triển dự báo sẽ tăng lên gấp hơn hai lần, tuy nhiên cùng với sự gia tăng dân số, chỉ số này sẽ vẫn còn thấp hơn nhiều so với các nước công nghiệp hoá. Ví dụ, ở Mỹ, dự báo năm 2020 số ô-tô trên đầu người sẽ là 797 xe/1000 người. Nhưng ở Trung Quốc, mặc dầu dự báo chỉ số này sẽ tăng gấp 5 lần nhưng vẫn chỉ đạt 52 xe/1000 người . Phát thải CO2 : Với ước tính 80% các phát thải CO2 do con người gây ra đều do sự đốt các nhiên liệu hoá thạch, sự sử dụng năng lượng của thế giới đã trở thành tiêu điểm của các cuộc thảo luận về thay đổi khí hậu toàn cầu. Dự báo, phát thải CO2 sẽ tăng từ 6,1 tỷ tấn carbon tương đương năm 1999 lên 7,9 tỷ tấn năm 2010, và 9,9 tỷ tấn năm 2020. Năm 1999, phát thải CO2 của các nước công nghiệp hoá chiếm 51% phát thải toàn cầu, tiêp sau là các nước đang phát triển 35%, rồi đến các nước thuộc Đông âu và Liên xô cũ 13%. Song đến năm 2020, phát thải của các nước đang phát triển sẽ chiếm phần lớn nhất 46%, tiếp sau là các nước công nghiệp hoá 42%, cuối cùng là các nước Đông Âu và Liên xô cũ 12%. Trong thời kỳ từ 1999 đến 2010, phần gia tăng phát thải CO2 của các nước đang phát triển sẽ chiếm 77% tổng số gia tăng, nếu tính đến 2020, thì con số này sẽ là 72%. Cường độ năng lượng: Trong thời kỳ dự báo, cường độ năng lượng của các nước công nghiệp hoá sẽ giảm (có hiệu qủa hơn) khoảng 1,3%/năm. Cường độ năng lượng của các nước đang phát triển cũng sẽ giảm khoảng 1,2%/năm vì các nền kinh tế này bắt đầu có những biểu hiện giống như các nước công nghiệp hoá. Đó là kết quả của sự nâng cao mức sống nhờ sự tăng trưởng kinh tế đã đạt được. |
||
