Từ công nghệ nước ngoài đến công nghệ bản địa, thành công trong phát triển công nghệ cao ở Đài Loan. |
||
| Dạng tài liệu | : | Bài trích báo |
| Tác giả | : | Lê Thành Ý |
| Tên nguồn trích | : | Khoa học Công nghệ Môi trường |
| Dữ liệu nguồn trích | : | 2004/Số 4/Tham khảo-tìm hiểu |
| Đề mục | : | 23.81 |
| Từ khoá | : | Công nghệ |
| Nội dung: | ||
|
Từ cuối thập kỷ 1990, Đài Loan đã trở thành một trong những nước hàng đầu về công nghiệp viễn thông và bán dẫn, với giá trị thiết bị làm ra đứng ở vị trí thứ 3 thế giới. Những đặc điểm trong chuyển đổi từ một nền kinh tế công nghiệp truyền thống sang phát triển công nghệ cao (CNC) đã thu hút được sự chú ý đặc biệt các nhà nghiên cứu. Từ công nghệ nước ngoài đến đổi mới công nghệ bản địa là một kinh nghiệm rất thành công trong phát triển khoa học công nghệ (KH&CN). Bài viết đề cập đến một số nội dung trong báo cáo của Tiến sỹ Wu Rong I, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Kinh tế Đài loan tại Hội thảo "Thúc đẩy các nền kinh tế tri thức châu Á", tổ chức tại Singapore gần đây. Đổi mới công nghệ, kết quả của một chiến lược thích nghi. Trong thời đại kinh tế tri thức, năng lực đổi mới công nghệ giữ vai trò quan trọng trong phát triển. Phạm vi hoạt động đổi mới, hình mẫu, đầu vào/ra, những cản trở và nguồn gốc tính mới đã được định nghĩa và giải thích trong nhiều công trình nghiên cứu. Tuy nhiên, nếu việc đo lường mới tập trung vào đổi mới quy trình công nghệ và sản phẩm thì khía cạnh tổ chức quản lý do Schumpeter đưa ra còn rất hiếm hoi (Schumpeter 1934). Khắc phục hạn chế này, trong xem xét đánh giá đổi mới, các nhà quản lı Đài Loan đã đặc biệt chú ı đến những khía cạnh tổ chức. Năng lực đổi mới, thành tựu nổi trội. Cho đến nay, Hoa Kỳ là một thị trường lớn về CNC. Để cung cấp sản phẩm cho thị trường này, hầu như các tổ chức nghiên cứu và sản xuất đều đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ qua Cơ quan Sáng chế và Nhãn hiệu Thương mại Mỹ (USPTO). Bằng sáng chế do tổ chức này cấp bao gồm sáng chế tiêu dùng(Utility Patent), sáng chế thiết kế(Design Patent) và sáng chế sản xuất(Plant Patent) đã tạo được uy tín và độ tin cậy rất cao trên thị trường. Trong số 10 nước hàng đầu về bằng sáng chế, Đài Loan được xếp sau Mỹ, Nhật và Đức với 6.550 văn bằng trong năm 2001(cao hơn Pháp 4.460 và Hàn Quốc 3.760). Đáng quan tâm là tốc độ tăng trưởng của Đài Loan rất cao đạt 12,73%, gấp trên 2 lần mức bình quân chung 4,5% (nước Mỹ có mức tăng 1,7% và Italia là 0.56%). Hầu hết đổi mới công nghệ của Đài Loan đã tập trung vào sản xuất thiết bị viễn thông và linh kiện điện tử với mức cao nhất ở ngành bán dẫn, chiếm 1/4 tổng số sáng chế (1578 trong năm 2001) (Lin H.Y 2002). Phân tích nguồn gốc và quá trình phát triển công nghệ Đài Loan cho thấy: Trong giai đoạn từ 1990 đến 2001 nguồn sáng chế đến Đài Loan chủ yếu đến từ Mỹ (trên 50%) và Nhật Bản. Riêng nguồn Nhật Bản, từ sau năm 1993, đã dần được thay thế bằng nguồn công nghệ Đài Loan. Trong phát triển công nghệ, tính độc lập của Đài Loan ngày càng rõ nét. Mặc dù công nghệ Mỹ là nguồn chủ yếu để học hỏi, song công nghệ và tri thức này đã được hấp thụ và nội địa hoá để trở thành công nghệ bản địa(tỷ lệ trích dẫn sáng chế Đài Loan tăng từ 11,6% lên 20,1% tương ứng với mức giảm tỷ lệ trích dẫn công nghệ Mỹ từ 56,7% xuống 50,2% trong thời kỳ 1993-2001). Khác với Hàn Quốc, mức độ phụ thuộc của Đài Loan vào công nghệ Nhật Bản thấp hơn. Sự khác biệt này có thể do phương thức và chính sách chuyển giao công nghệ của từng nước (thập niên 1970-1980, 71% đầu tư nước ngoài của Hàn quốc đến từ Nhật Bản, 15% từ Mỹ; tỷ lệ đầu tư tương ứng trong giai đoạn này đối với Đài Loan là 21% và 38%). Đài Loan không chỉ gửi nhiều kỹ sư và cán bộ nghiên cứu triển khai (NCTK) đến Mỹ học mà còn sử dụng nhiều bằng sáng chế của Mỹ và thu hút được nhiều nhà khoa học từ Mỹ trở về. Đây chính là nguyên nhân của mối quan hệ gần gũi trong trích dẫn sáng chế công nghệ Mỹ. Mặt khác, do hiệu ứng phân bổ địa lý, tỷ lệ tự trích dẫn của Đài Loan cao hơn Hàn Quốc và ngày càng gia tăng. Đài Loan không chỉ có thứ hạng cao về số bằng sáng chế được cấp mà còn giữ vị trí cao trong luồng chuyển giao tri thức quốc tế. Nếu năm 1990, số trích dẫn sáng chế Đài Loan so với Mỹ chỉ bằng 0,66% (thứ 10 thế giới), năm 1995 bằng 1,5% (thứ 7), thì đến năm 2000 đã đạt 4,35%, vươn lên hàng thứ 3 thế giới và năm 2001 đã là 6,37%. Hầu hết sáng chế trong giai đoạn 1996-2001 của Đài Loan thuộc lĩnh vực điện tử, tin học. Ngành có mức tăng trưởng cao là bán dẫn, trò chơi điện tử, xử lý số liệu, máy tính... với mức trung bình hàng năm 20%. Tỷ phần sáng chế công nghệ mới trên thế giới đã tăng từ 2,5% (1996) lên 6,10% (2001), được xem là nền kinh tế năng động nhất trong lĩnh vực CNC. (Nhật Bản, nước có vị trí thứ 2 thế giới tỷ phần đã giảm từ 35,11% xuống 23,1% trong cùng thời gian). Những năm gần đây, Đài Loan đã chuyển từ vai trò học hỏi sang sáng tạo, có những tiến bộ vượt bậc cả về số lượng và tốc độ tăng trưởng sáng chế trong công nghiệp linh kiện điện tử và thiết bị viễn thông. Trên phương diện trích dẫn sáng chế, Đài Loan là một trong 10 nước hàng đầu, năm 2001 đã vươn lên đứng hàng thứ 3 sau Mỹ và Nhật Bản. Những thành công này cho thấy mức độ đóng góp đáng kể của Đài Loan vào phát triển tri thức công nghệ toàn cầu. Tổ chức học hỏi, những khía cạnh riêng. Động lực của đổi mới bao gồm "Lực đẩy từ phía cung" và "Sức kéo của phía cầu". Các tính năng kỹ thuật tốt làm cho sản phẩm mới thích ứng nhanh nhu cầu, song việc thay thế lại phụ thuộc vào khả năng chấp nhận của người tiêu dùng. Để một thế hệ sản phẩm mới có thể thay thế được công nghệ cũ, các nhà kỹ nghệ phải vượt qua rào cản công nghệ, còn các nhà kinh doanh lại phải tạo ra giá thấp cho người cần dùng. Nói một cách khác, phát triển sản phẩm liên quan đến thành công cả về đổi mới bản thân công nghệ và tổ chức sản xuất. Trong xu thế toàn cầu, cạnh tranh giữa các hãng không chỉ giới hạn ở "sản xuất hàng loạt" mà còn trong "tốc độ". Lợi nhuận biên ngày càng nhỏ, thì tổ chức nào có năng lực đổi mới công nghệ cao và khả năng phản ứng nhanh trước nhu cầu, thì cơ may tồn tại mới cao. Để sản xuất sản phẩm tính năng mới, cần có vật liệu và khả năng tích hợp công nghệ cao. Giảm chi phí sản xuất không chỉ phụ thuộc vào công nghệ, thiết bị mà quan trọng là quản lý có hiệu quả. Phạm vi quản lý bao gồm cả quy trình công nghệ, chất lượng sản phẩm và năng lực kế hoạch. Tính hiệu quả được quyết định bởi nghệ thuật điều hành, khả năng phối hợp giữa các bộ phận và từng cá nhân trong tổ chức. ở đây, năng lực tổ chức học hỏi được tích luỹ liên tục có vai trò rất quan trọng. Cùng với sáng tạo công nghệ, doanh nghiệp và các đơn vị, cơ quan nghiên cứu triển khai Đài Loan đã giành những nỗ lực đáng kể để nâng cao trình độ tổ chức học hỏi nhằm có được năng lực sản xuất hàng loạt cao hơn. Trong thập niên 1990, công nghiệp công nghệ thông tin Đài Loan đã có sự phát triển vượt bậc, giá trị tổng sản phẩm của ngành đã từ vị trí thứ 9 lên thứ 3 thế giới (năm 1995). Màn hình máy tính là sản phẩm công nghệ đưa từ bên ngoài vào sản xuất, bảng mạch chủ trong máy vi tính (Mother Board) là sản phẩm công nghệ đầu tiên tự sáng tạo. Đây là những sản phẩm đưa Đài Loan lên vị trí hàng đầu trên thị trường thế giới. Đối với máy quét ảnh, Đài Loan bắt đầu từ sản xuất máy thao tác tay, cuối thập niên 1990 mới sản xuất máy quét tự động và đến nay, sản phẩm này đã chiếm lĩnh trên 30% thị phần thế giới. Máy tính xách tay được đưa vào sản xuất năm 1990, đến 1998, giá trị sản xuất đã vượt Nhật Bản, chiếm 40% thị phần thế giới. Hơn thế nữa, máy đọc đĩa hình DVD mới đưa vào sản xuất năm 1998, đến năm 2000 đã chiếm lĩnh được 30% thị phần toàn cầu. Phân tích quá trình nâng cao năng lực tổ chức đổi mới công nghệ Đài Loan cho thấy: Khi giành được vị trí chủ chốt trên thị trương thế giới (khoảng 30% thị phần). Đài Loan đã có thể theo sát các nứơc hàng đầu về năng lực công nghệ và khả năng sản xuất. Thành công đạt được có thể là do đã lựa chọn được một chiến lược phát triển với những bước đi thích hợp trong tổ chức đổi mới công nghệ được bắt đầu từ đưa vào sản xuất những sản phẩm thứ cấp (máy quét ảnh thao tác bằng tay trước máy quét tự động; máy tính để bàn và bảng mạch chủ được sản xuất trước máy tính xách tay; modem cáp, màn hình ống phóng điện tử (CRT) trước màn hình dẹt tinh thể lỏng (LCD). Mặc dù có khác biệt giữa những loại hình công nghệ được nâng cấp, song nhìn chung, năng lực tổ chức quản lý công nghệ và quản lý chất lượng sản phẩm mới đã được nâng cao thường xuyên, liên tục. Nhờ vậy, khoảng thời gian từ khi bắt đầu sản xuất đến khi chiếm lĩnh vị trí trọng yếu trên thị trường giảm khá nhanh (mất 8 năm để giành được 40% thị phần thế giới về maý tính xách tay, 4 năm với đầu đọc đĩa CD-ROM và chừng 2 năm cho màn hình tinh thể lỏng) Đài Loan đã thu hút được vốn đầu tư nước ngoài (FDI) nhưng ảnh hưởng của FDI không phải chủ yếu ở năng lực công nghệ mà là quản lý, ảnh hưởng này rõ nét thông qua nguồn nhân lực được chuyển giao từ các doanh nghiệp FDI ( San G. 1989). Các công ty Đài Loan không chỉ học kỹ năng quản lý từ các công ty FDI mà còn tạo ra nhiều hệ thống quản lý sản phẩm kiểu hãng Acer thiết lập. Mặt khác, do hầu hết các cơ sở là doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) nên luồng di chuyển nhân lực đã tạo ra khả năng dễ dàng học hỏi lẫn nhau để hoàn thiện hệ thống quản lı. Thông qua học hỏi và khuyếch tán công nghệ, tích luỹ năng lực tổ chức trong thời gian dài ở từng bộ phận và trong các doanh nghiệp, Đài Loan đã tạo ra năng lực sản xuất hàng loạt sản phẩm có tính năng công nghệ mới và nâng cấp được nhiều công nghệ đáp ứng kịp thời nhu cầu mở rộng của thị trường toàn cầu. Vai trò của Nhà nước trong phát triển KH&CN Chính phủ có vai trò quan trọng để phát triển công nghệ, thành tựu KH&CN Đài Loan đạt được bắt nguồn từ chính sách phát triển kinh tế với những lựa chọn chiến lượcthích nghi, tạo tiền đề cho phát triển công nghiệp bán dẫn và công nghệ thông tin. Theo tiến trình phát triển, ưu thế của các ngành công nghiệp Đài Loan có thể là do sự phù hợp với nhu cầu và xu thế phát triển toàn cầu. Những năm đầu thập niên 1990, điện tử đã trở thành ngành xuất khẩu lớn thứ 2 với năng lực cạnh tranh cao nhờ vào lợi thế lao động rẻ và tính linh hoạt của các DNVVN. Tuy vậy, với nhận thức các ngành công nghiệp sử dụng nhiều nhân công sẽ làm tắc nghẽn tăng trưởng kinh tế tương lai, nên ngay trong giai đoạn này, các nhà hoạch định chính sách Đài Loan đẫ lựa chọn CNTT như một ngành mũi nhọn hỗ trợ để phát triển mạnh mẽ CNC. Vào mọi thời kỳ, sự phát triển công nghệ đều do Chính phủ chỉ đạo và khu vực phi chính phủ thực hiện. Những biện pháp can thiệp của Nhà nước có thể tiến hành trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các tổ chức nghiên cứu triển khai, chuyển giao tiến bộ KHCN, hỗ trợ tài chính, miễn giảm thuế, cho vay lãi suất thấp và những trợ giúp khác nhằm tạo ưu thế, khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào nghiên cứu phát triển (R&D). Xây dựng cơ sở hạ tầng, hỗ trợ doanh nghiệp phát triển CNC Chính phủ đã nỗ lực xây dựng cơ sở hạ tầng, các Công viên Khoa học nhằm tạo môi trường tốt cho NCPT và đổi mới công nghệ. Xét về mặt đầu tư, có thể thấy vai trò nổi bật của Công viên Công nghiệp dựa vào Khoa học tại Tân Trúc và Hạ tầng cơ sở thông tin. Công viên Công nghiệp dựa vào Khoa học Tân Trúc, hay còn gọi là Công viên Khoa học Tân Trúc, là đơn vị trực thuộc Hội đồng Khoa học Quốc gia (NSC) được xây dựng năm 1980. Đến cuối 2001, trên địa bàn Công viên đã có 312 công ty khoa học công nghệ hoạt động, tạo ra doanh số bán hàng trên 929,3 tỷ đôla Đài Loan/năm. Nằm giữa các Đại học Quốc gia Chiao-Tung, Tsing-Hua và Viện Nghiên cứu Công nghệ Công nghiệp (ITRI), Công viên Khoa học Tân Trúc là nơi tiếp nhận nguồn lực của các cơ quan nghiên cứu quốc gia để hỗ trợ cho sự phát triển của các doanh nghiệp. Các đại học và viện nghiên cứu quốc gia được định hướng như những nguồn lực hỗ trợ chủ yếu cho sự phát triển Công viên, những đơn vị này có thể trực tiếp chuyển giao công nghệ hoặc hỗ trợ về kỹ thuật cho các đơn vị nằm trong Công viên. Phù hợp với mục tiêu giúp tổ chức nghiên cứu triển khai và quỹ đầu tư mạo hiểm phát triển các ngành CNC, những chính sách thực thi bên trong Công viên ngoài miễn giảm thuế doanh thu đã tập trung vào: cung cấp dịch vụ hành chính; thu hút vốn và nguồn nhân lực từ ngoài nước; tạo điều kiện thuận lợi và cung cấp vốn ưu đãi cho các hoạt động NCPT. Công viên đã thực hiện dịch vụ được xử lý qua một cửa duy nhất của Ban Quản lý để phục vụ doanh nghiệp, Công viên có hệ thống tự động trả hàng qua Internet nhằm đơn giản hoá thủ tục hải quan cho hàng hoá xuất nhập; nhiều giải pháp ưu đãi đầu tư và sử dụng tài sản trí tuệ được thực hiện nhằm khuyến khích các nhà khoa học ở nước ngoài trở về hoạt động. Công viên cũng đã thành lập hệ thống giáo dục thực nghiệm giành cho nhiều lứa tuổi trong các bậc học từ nhà trẻ đến lớp phổ thông trung học sau cùng đồng thời với những hỗ trợ để cải thiện môi trường sống và làm việc của các nhà nghiên cứu, thực nghiệm và sản xuất trong khuôn khổ công viên. Để khuyến khích các đơn vị trong Công viên đầu tư vào NCPT và xây dựng năng lực công nghệ bản địa, Công viên lập quỹ tặng thưởng. Quỹ này dành cho những dự án NCPT do các doanh nghiệp trong Công viên đề xuất với mức cao nhất là 5 triệu đô la Đài Loan, được thực hiện trong vòng 5 năm. Ngoài ra còn có những ưu đãi khác như miễn/giảm thuế thiết bị nhập khẩu phục vụ NCPT và các nhà đầu tư được phép đăng ký xin cấp vốn Nhà nước, vay ngân hàng với lãi suất thấp hơn 2% so với lãi suất chung. Với những ưu đãi nêu ra, đầu tư NCPT của các tổ chức hoạt động trong Công viên đạt được khá cao. Tỷ lệ chi phí nghiên cứu trên doanh thu của các doanh nghiệp đạt 5,41% (toàn bộ các ngành công nghiệp là 1,2%) và số bằng sáng chế năm 1998 đã chiếm 62% tổng số bằng được cấp của Đài Loan. Thông qua hoạt động, Công viên đã tạo môi trường thuận lợi cho việc hình thành và phát triển các doanh nghiệp Spin-off trong giai đoạn khởi đầu, đã trở thành cầu nối quan trọng với Thung lũng Silicon nước Mỹ trong gọi vốn, thu hút các nhà khoa học và chuyên gia công nghệ ở ngoài Đài Loan, hợp tác có kết quả với những nhóm dẫn đầu trong thị trường công nghệ toàn cầu. Đặc biệt, Công viên đã tăng cường được mối quan hệ liên kết, tạo ra chu trình trao đổi thông tin và tích luỹ tri thức giữa các doanh nghiệp trong nội bộ Công viên và trong và ngoài nước. Hạ tầng cơ sở CNTT. Tháng 8/1994 Chính quyền Đài Loan đã thành lập Uỷ ban Chỉ đạo Phát triển Cơ sở Hạ tầng CNTT với nhiệm vụ thúc đẩy xây dựng mạng lưới thông tin và các ứng dụng có tính chất đổi mới CNTT. Từ đó, việc xác định mục tiêu xây dựng cơ sở hạ tầng và nhận dạng xu thế Chính phủ điện tử ngày càng rõ nét. Chính phủ Đài Loan đã thông qua "Chương trình Phát triển Cơ sở Hạ tầng Thông tin" như một định hướng để đạt được mục tiêu phát triển, tập trung vào Tăng cường môi trường thương mại Internet; phát triển thương mại điện tử; phổ cập Internet trong từng giai đoạn sản xuất công nghiệp. Trong thời đại kinh tế dựa trên tri thức, Chương trình này đã tạo dựng chuỗi cung cấp gồm các hãng trong, ngoài nước tham gia và tạo cơ sở vững chắc để xây dựng mô hình "Đài Loan và sản xuất toàn cầu" Chính sách NCPT tạo môi trường phát triển KH&CN Có thể thấy rõ chính sách này thông qua các biện pháp khuyến khích đầu tư, đào tạo sử dụng nguồn nhân lực và chính sách hỗ trợ tài chính. Các giải pháp khuyến khích đầu tư đã được hình thành theo các giai đoạn từ 1960 đến 1990 và những năm sau này. Thời kỳ trước năm1990, Đài Loan thực hiện Luật Khuyến khích đâu tư (SEI), luật này bao gồm tất cả các loại đầu tư cơ bản với mục đích khuyến khích. ở giai đoạn sau, khi luật nâng cấp các ngành Công nghiệp (IUS) đưa vào cuộc sống đã nhấn mạnh đến hiệu quả chức năng đầu tư, đặc biệt đối với NCPT, đào tạo cán bộ và tự động hoá với mục tiêu không chỉ là khuyến khích mà tập trung vào những đầu tư có thể thúc đẩy mạnh sự phát triển doanh nghiệp. Trong khuyến khích đầu tư NCPT, Chương trình Hỗ trợ các ngành Công nghiệp Chiến lược (APSI) thực hiện từ năm 1982 đã hướng vào 151 sản phẩm phần thuộc lĩnh vực CNTT và chế tạo máy; Đến năm 1987, mục tiêu hỗ trợ đã mở rộng đến 214 sản phẩm trong phạm vi cấp vốn ưu đãi, giảm thuế, hỗ trợ quản lý kỹ thuật.Tương tự với Chương trình APSI, trong Kế hoạch 6 năm phát triển Quốc gia, Đài Loan đã tập trung hỗ trợ cho 10 ngành công nghiệp và năm 1995 đã hướng vào thanh toán hỗ trợ và thanh toán bổ sung cho các tổ chức NCPT để phát triển các sản phẩm mới (MADNLP) nhằm chiếm lĩnh vị trí hàng đầu trong cạnh tranh hội nhập vào thị trường thế giới. Chính sách đào tạo và sử dụng nhân lực KH&CN Nhằm sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực được đào tạo, Nhà nước đã có những điều chỉnh chính sách giáo dục phù hợp với mục tiêu phát triển trong từng giai đoạn. Từ mục tiêu phát triển CNC, Chính phủ đã tăng cường việc bồi dưỡng đội ngũ cán bộ công nghệ, những môn học liên quan và số người tốt nghiệp công nghệ liên tục gia tăng. So với năm 1976, số người tốt nghiệp đại học các ngành công nghệ năm 2000 tăng 3,3 lần và chiếm trên 52,5% số sinh viên tốt nghiệp. Trong sử dụng lực lượng cán bộ KH&CN, động lực quan trọng để thu hút nhân tài là phân chia lợi ích. Lợi nhuận và sở hữu cổ phần trong các ngành CNC kiểu Đài Loan không chỉ là đưa lợi tức đến người lao động mà cho phép họ trở thành cổ đông của doanh nghiệp. Doanh nghiệp được phân chia lợi nhuận trực tiếp một phần bằng tiền và một phần khác bằng cổ phiếu. Cách nhận được cổ phần không phải trả tiền gọi là "phân phối cổ phần". Hệ thống phân chia lợi nhuận và sở hữu cổ phần đã tao sức hấp dẫn và thu hút được nhiều lao động tài năng đến làm việc trong các ngành CNC đặc biệt ở các lĩnh vực công nghệ tin học và điện tử. Với cách làm này, tình trạng "chảy chất xám" ở Đài Loan đã đổi chiều. (theo số liệu công bố gần đây, trong số 297 doanh nghiệp công nghệ cao trong Công viên Khoa học Tân Trúc, đã có 115 công ty do chuyên gia công nghệ Đài Loan ở nước ngoài trở về thành lập.) Chính sách tạo vốn đầu tư mạo hiểm Trong phát triển CNC, ở thời kỳ đầu, năm 1973 Đài Loan đã thành lập Quỹ phát triển để đầu tư và điều phối ngân hàng tái cấp vốn đầu tư mạo hiểm. Tuy nhiên, cách làm này chỉ mới tạo ra được một số ít thành công trong phát triển công nghiệp. Công ty đầu tư vốn mạo hiểm đầu tiên ra đời ở Đài Loan vào năm 1984, đến năm 1995 bắt đầu tăng mạnh. Năm 2001, trên toàn Đài Loan đã có 199 công ty đầu tư mạo hiểm với tổng số vốn 134,1 tỷ đô la Đài Loan (đứng thứ 2 trên thị trường toàn cầu). Nguồn vốn của các công ty này được huy động chủ yếu từ các doanh nghiệp địa phương và cá nhân người Đài Loan, 70% nguồn vốn được đầu tư vào các DNVVN. Thông qua hoạt động này, các nhà đầu tư mạo hiểm đã góp phần quan trọng vào phát triển các ngành CNC. Một số nhận xét ban đầu Từ thực trạng những năm qua, sự phát triển KH&CN Đài Loan có thể được chia làm 2 giai đoạn. Trước năm 1990, là thời kỳ Chính phủ định ra phương hướng phát triển và khởi xướng những chính sách, biện pháp quan trọng. Sau năm 1990, các tổ chức nghiên cứu phát triển đã từng bước xây dựng nền tảng công nghệ. Công viên Khoa học Tân Trúc đã tạo ra chùm các ngành CNC và bắt đầu dẫn hướng cho sự phát triển công nghiệp, Chính phủ dựa theo xu thế phát triển và con đường đi lên của công nghiệp để điều chỉnh chính sách cho phù hợp. Trong giai đoạn đầu, đầu tư trực tiếp nước ngoài đã cung cấp nguồn lực quản lı chủ yếu. Sau khi xác lập định hướng phát triển công nghệ điện tử tin học, Chính phủ cung cấp công nghệ và tạo môi trường để phát triển các ngành CNC. Thông qua việc mở rộng các trường đại học, Nhà nước đã đào tạo và cung cấp cho xã hội nguồn nhân lực KHCN cơ bản để thực hiện các định hướng nêu ra. Để đội ngũ cán bộ KH&CN nắm bắt kịp công nghệ tiên tiến và tạo ra năng lực phát triển của chính mình, Chính phủ đã thực thi những giải pháp để chuyển giao một số công nghệ chủ chốt được lựa chọn từ các nước tiên tiến đồng thời với thành lập cac viện, trung tâm nghiên cứu để khám phá và cấy những công nghệ học hỏi được này vào Đài Loan. Nhằm thương mại hoá công nghệ tiếp thu, Chính phủ khuyến khích, hỗ trợ các cơ quan nghiên cứu thành lập doanh nghiệp Spin-off, hình thành môi trường đầu tư có độ mạo hiểm phù hợp với sự phát triển của các công ty Spin-off, Start-up, chủ động phát triển nguồn nhân lực, lập các tổ chức nghiên cứu, chuyển giao công nghệ và hỗ trợ tích cực để các tổ chức NCPT duy trì, phát huy được năng lực độc lập của mình. Trong giai đoạn 2, các công ty trong Công viên Khoa học Tân Trúc bắt đầu giữ vai trò quan trọng. Nhờ môi trường hoạt động tốt trong Công viên và hệ thống phân chia lợi ích, các ngành công nghiệp CNC đã thu hút được nhiều nhân tài ở nước ngoài. Với những kỹ sư có trình độ và nhiều chuyên gia công nghệ trở về từ các nước tiên tiến, các doanh nghiệp CNC Đài Loan đã tổ chức được việc hợp tác theo chiều dọc với các doanh nghiệp trong nước và nhiều doanh nghiệp ở nước ngoài trong các ngành công nghiệp trọng điểm cả về sản phẩm và công nghệ, tạo liên minh chiến lược trong các lĩnh vực công nghệ chủ chốt. Qua đó, năng lực đổi mới công nghệ và tổ chức sản xuất của các doanh nghiệp đã được nâng cao. Các nhân tố tạo thành công trong nâng cao trình độ công nghệ ở Đài Loan có thể bao gồm sự lựa chọn đúng đắn định hướng phát triển công nghiệp; xây dựng thành công và tích luỹ được năng lực độc lập của các tổ chức NCPT chuyển giao, phát triển công nghệ đồng thời với tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động của cộng đồng khoa học trong Công viên Khoa học Tân Trúc. Khác với Hàn Quốc, nơi các doanh nghiệp có vai trò tương đối độc lập trong phát triển công nghệ và Chính phủ trực tiếp giúp doanh nghiệp chuyển giao, nội địa hoá, phát triển công nghệ của chính doanh nghiệp, ở Đài Loan, thành công trong phát triển công nghiệp CNC có phần đóng góp quan trọng của các tổ chức NCPT, chuyển giao công nghệ và nhất là Công viên Khoa học Tân Trúc. Công nghiệp CNC Đài Loan đã xây dựng được nền tảng trong 20 năm qua, công nghiệp tin học và điện tử đã trở thành ngành quan trọng trên thị trường toàn cầu. Từ những thách thức cạnh tranh khốc liệt tương lai, công nghiệp Đài Loan đã được định vị để trở thành "Trung tâm sản xuất giá trị gia tăng cao". Năng lực của công nghiệp có giá trị gia tăng cao thường do kết quả NCPT mang lại. Từ đây, Đài Loan phải chuyển mạnh từ sản xuất dựa vào công nghệ nước ngoài sang phát triển trên năng lực tự nghiên cứu đổi mới để tạo ra các ngành công nghiệp có sức hỗ trợ toàn cầu dựa vào trí tuệ Đài Loan. Đối mặt với những thách thức toàn cầu, Đài Loan đã xây dựng kế hoạch "Thách thức 2008, kế hoạch phát triển trọng điểm Đài Loan" với mục tiêu trong vòng 5 năm sẽ trở thành một trung tâm đổi mới công nghiệp và NCPT của khu vực Châu Á- Thái Bình Dương. Với những chính sách thu hút nguồn lực KH&CN toàn cầu, các nhà hoạch định chính sách KH&CN Đài Loan hy vọng sẽ tao được làn sóng mới để phát triển công nghiệp và công nghệ mới trong xu thế hội nhập kinh tế toàn cầu. |
||
