Tìm kiếm nâng cao

Số truy cập:
Home » Cơ sở dữ liệu toàn văn » Ấn phẩm điện tử của Trung tâm » Khoa học Công nghệ Môi trường » 2004 » Số 4 » Bạn có biết » Các sản phẩm tăng cường dinh dưỡng nhờ công nghệ sinh học

Các sản phẩm tăng cường dinh dưỡng nhờ công nghệ sinh học

  
Dạng tài liệu : Bài trích báo
Tên nguồn trích : Khoa học Công nghệ Môi trường
Dữ liệu nguồn trích : 2004/Số 4/Bạn có biết
Đề mục : 34 Sinh học
Từ khoá : Dinh dưỡng
Nội dung:
 

Cà chua chống ung thư

Trong một thập kỷ, Đại học Purdue và Cơ quan Nghiên cứu Nông nghiệp thuộc Bộ Nông nghiệp Mỹ đã tiến hành các thử nghiệm thực địa đối với giống cà chua mới chống ung thư.Giống mới này có lượng chất chống oxy hoá lycopene cao gấp 3 lần so với các giống khoai truyền thống. Người ta tin là lycopene làm giảm rủi ro ung thư vú và ung thư tuyến tiền tiệt, cũng như giảm nguy cơ bệnh tim . Các đặc điểm có lợi cho sức khoẻ của cà chua‘cải tiến’ được phát hiện khi các nhà khoa học nghiên cứu kéo dài thời gian lưu giữ của cà chua.

Lycopene khiến cho cà chua có màu đỏ và là chất có lợi cho cơ thể khi cà chua được chế biến thành nước sốt, nước chấm... Nhiệt sẽ giúp loại thực phẩm giải phóng lycopene làm cho chất này càng dễ hấp thụ trong cơ thể. Các giống cà chua thương mại mới giàu lycopene sẽ xuất hiện trong 2-5 năm tới.

Cà chua ngăn ngừa bệnh tim

Trong tương lai gần, chúng ta có thể mua cà chua biến đổi gen hấp dẫn và có lợi cho sức khoẻ. Các nhà nghiên cứu ở Bộ nông nghiệp Mỹ và Viện nghiên cứu Thực vật Boyce Thompson ở Đại học Cornell đã phát hiện được gen kiểm soát mùi vị và quá trình chín ở cà chua. Bằng cách ‘đóng’ gen rin, cà chua trên cây sản sinh ra nhiều chất dinh dưỡng, có màu sắc và mùi vị ngon hơn. Cà chua ở trên cây càng lâu, lycopene được sản sinh càng nhiều. Các nhà nghiên cứu hy vọng có thể áp dụng phát hiện này đối với dâu tây, chuối, ớt ngọt và dưa.

Trong một nghiên cứu khác, các nhà khoa học ở Đại học London đã phát triển các giống cà chua có có hàm lượng beta carotene cao gấp 3 lần được cơ thể chuyển hoá thành vitamin A.Vitamin A cũng được xem là chất phòng ngừa ung thư và bệnh tim.

Hoa quả và rau tươi hơn

Các loại rau và hoa quả trong tương lai sẽ tươi hơn nhờ vào một gen được Peter Meyer, Gs thực vật học ở Đại học Leeds, Anh nhận diện. Meyer đã phát hiện ra gen sản xuất hormon ở thực vật chống lại sự già hóa và giữ cho thực phẩm tươi lâu hơn. Các nhà nghiên cứu hiện nay đang tìm kiếm các giải pháp thực tiễn cho thị trường thực phẩm.

Bằng cách thúc đẩy gen sản xuất ra nhiều hormon, các phần cắt từ cây có thể sống trong môi trường nước 6 tháng và được nuôi cấy mô để phát triển các mầm mới. Gen được nhận diện có thể giúp duy trì các loại rau ở điều kiện ban đầu trong suốt quá trình vận chuyển, điều này đặc biệt quan trọng ở các nước đang phát triển là nơi không có đủ cơ sở hạ tầng cần thiết giữ sản phẩm tươi nguyên đến tay người tiêu dùng. Công nghệ này có nhiều ưu điểm là vừa kết hợp các hệ thống tự nhiên, vừa có tính chi phí hiệu quả do chúng ta xác định được cơ chế ‘đóng-mở’ của gen.

Cây rau diếp giúp phòng ngừa bệnh tim và ung thư

Một nhà nghiên cứu ở Viện Giáo dục Quốc gia Singapo đã sử dụng công nghệ sinh học thực vật để phát triển một giống rau diếp mới tăng cường resveratrol - hoạt chất có ở nho và trong rượu nho giúp phòng ngừa bệnh tim và ung thư do tăng cholesterol tốt và giảm cholesterol có hại.

Tet Fatt Chia đã bổ sung gen tạo resveratrol từ quả nho đỏ vào rau diếp đỏ. Kết quả rau có màu hồng, song mùi vị vẫn giống như các giống rau đỏ. Với những thành công này, các nhà khoa học hy vọng áp dụng công nghệ gen ở các loại rau khác như rau bina, cà chua, cải bắp, dưa hấu và nho.

Ngô và cải dầu có hàm lượng Vitamin E cao gấp 10 lần

DellaPena, Gs sinh hoá và sinh học phân tử ở Đại học Bang Michigan đã nhận diện được gen sản xuất một loại enzyme có vai trò chuyển dạng ít hiệu quả nhất (gamma) thành dạng hiệu quả nhất của vitamin E (alpha) có trong các loại dầu thực vật. Các sản phẩm cuối cùng là các loại dầu từ đậu tương, ngô và cải dầu ‘cải tiến’ chứa hàm lượng vitamin E cao gấp 10 lần so với các dạng truyền thống. Vitamin E giúp tăng cường hệ thống miễn dịch của cơ thể , giảm nguy cơ rủi ro các bệnh tim mạch và một số nệnh ung thư, làm chậm quá trình bệnh thoái hoá như Alzheime.

DellaPena đã thực hiện thành công đối với với cây cải xoong (Arabidopsis thaliana) có hàm lượng vitamin E alpha gấp 10 lần. Do con đường biến đổi gen tương tự nên các nhà nghiên cứu tin tưởng có thể chuyển giao quá trình sang đậu tương, ngô và cải dầu.

Dầu mù tạc giầu Vitamin

Dầu thực vật làm từ hạt cây mù tạc tương tự như dầu cải là loại thực phẩm được sử dụng phổ biến ở Ấn Độ. Là một phần của nỗ lực toàn cầu giải quyết tình trạng thiếu vitamin A tại nhiều khu vực ở các nước đang phát triển, Đại học Bang Michigan, Cơ quan Phát triển Quốc tế Mỹ (USAID), Viện Nghiên cứu Năng lượng Tata của Ấn Độ và công ty Monsanto đang hợp tác tiến hành làm tăng hàm lượng beta carotene trong hạt mù tạc. Beta carotene là chất chống oxy hoá tạo màu ở củ cà rốt, đồng thời có tác dụng thúc đẩy sản xuất vitamin A trong cơ thể. Sản phẩm này hy vọng tạo ra đủ lượng vitamin A giúp giải quyết tình trạng thiếu vitamin A trên toàn cầu khiến 250.000-500.000 trẻ em bị mù và khoảng 1-2 triệu trẻ em tử vong mỗi năm.

Công nghệ gen tạo ra hạt mù tạc giàu beta carotene cũng giống như công nghệ tạo ra giống lúa vàng tăng làm lượng beta carotene. Các nhà nghiên cứu đã chọn giống mù tạc Brassica juncea được trồngở nhiều nơi trên thế giới gồm Ấn Độ, Nêpan và Bangladesh.

Đậu tương vô hiệu hoá gen gây dị ứng

Các nhà nghiên cứu đã dùng công nghệ sinh học để ‘vô hiệu hoá’ gen đặc trưng sản xuất protêin ở đậu tương gây ít nhất 65% các phản ứng dị ứng ở người. Mặc dù phải mất vài năm nữa mới đưa ra được sản phẩm thương mại song đây sẽ là món quà ớn cho khoảng 6-7 triệu người Mỹ bị dị ứng thực phẩm. Hiện nay, giải pháp cho những người này là không ăn các sản phẩm từ đậu tương song thật là khó vì có quá nhiều loại thực phẩm này, từ dầu trộn salát đến các loại bánh, các sản phẩm ngũ cốc và thức ăn cho trẻ em đều chứa các thành phần chiết ra từ đậu tương.

Các nhà nghiên cứu của Cơ quan Nghiên cứu Nông nghiệp Mỹ đã dùng kỹ thuật ‘đóng’ gen tạo ra protêin gây dị ứng. Các thử nghiệm ban đầu hiện đang được tiến hành.

Thức ăn tăng cường cho cá tạo ra cá khoẻ mạnh hơn

Các báo cáo cho thấy các lợi ích đối với tim khi ăn cá chứa các axit béo omega-3 mới đây đã bị nghi ngờ bởi các cảnh báo một số loại cá có chứa một số hàm lượng vết PCB và thuỷ ngân đáng lo ngại. Cá lớn thường tích luỹ các lượng rất nhỏ các hợp chất này qua ăn các loại cá nhỏ hơn, đó là lý do khuyến cáo phụ nữa mang thai và trẻ em không được ăn một số loại cá.

Các nhà công nghệ sinh học hy vọng tạo ra được thức ăn cho cá từ thực vật có thể giảm bớtnguy cơ tiềm tàng các chất độc gây hại ở cá nuôi. Theo Charles Santerre, phó GS về thực phẩm và dinh dưỡng ở Đại học Purdue University, Indiana, loại dầu cải tăng cường có chứa chất béo đa bất bão hòa có thể được sử dụng làm thức ăn cho cá. Cá có thể dễ dàng chuyển thành các axit béo omega-3 eicosapentaenoic (EPA) và docoshexaenoic (DHA) so với dầu cải truyền thống. Như vậy, bằng cách bổ sung thực phẩm từ thực vật vào chế độ ăn của cá bé có thể giảm khả năng tiếp xúc với các chất ô nhiễm, đồng thời bảo vệ được nguồn lợi thuỷ sản từ đại dương.

Dầu đậu nành có lợi cho tim

Các nhà nghiên cứu ở Đại học Nebraska thuộc Viện nghiên cứu Thực vật Lincoln đã phát triển một giống đậu tương mới, từ đó có thể tạo ra hàng nghìn sản phẩm tiêu dùng có lợi từ dầu của giống đậu tương này. Hiện nay, gần 80% dầu tiêu thụ ở Mỹ là dầu đậu nành.

Giống đậu tương mới có nhiều chất béo đơn bất bão hòa ‘có lợi’, ít chất béo đa bất bão hòa và ít các chất béo bão hoà không tốt khác. Ngoài ra, dầu từ đậu ổn định hơn nên các nhà sản xuất thực phẩm không cần phải bổ sung thêm dầu thực vật đã được hydro hoá một phần vào sản phẩm – cách giúp bảo quản và ổn định dầu thành phẩm song lại sinh ra các axit béo gây bệnh nghẽn động mạch.

Một số nghiên cứu cho thấy ăn các axit béo và chất béo bão hòa sẽ làm tăng LDL trong cơ thể và tăng rủi ro bệnh tim. Nếu sản phẩm đậu tương này được đưa ra thị trường thì đây sẽ là sản phẩm công nghệ sinh học đầu tiên mà người tiêu dùng sẽ thấy được lợi ích của nó.

N.H. (theo Biotech, 2/2004)

 
Trung tâm Thông tin Khoa học Công nghệ Quốc gia