Tìm kiếm nâng cao

Số truy cập:

Gắn nghiên cứu với sản xuất

  
Dạng tài liệu : Bài trích báo
Tác giả : Trung Đức
Tên nguồn trích : Khoa học Công nghệ Môi trường
Dữ liệu nguồn trích : 2004/Số 3/Tham khảo-tìm hiểu
Đề mục : 11 Chính trị
Từ khoá : Nghiên cứu
Nội dung:
 

Thành công của một viện nghiên cứu ứng dụng

Trong vòng 12 năm, sản xuất ngô lai ở nước ta đã có bước phát triển đột biến, với năng suất bình quân từ 15 tạ/ha lên 30 tạ/ha và tổng sản lượng tăng gấp 4 lần (đạt trên 2,5 triệu tấn năm 2002). Bằng cách nào từ xuất phát chậm sau các nước trong khu vực 40 năm, thị trường giống lai hoàn toàn do các công ty nước ngoài nắm giữ, các nhà khoa học của Viện Nghiên cứu Ngô đã có những đóng góp quyết định vào kỳ tích giành lại trên 60% thị phần? Bài viết đề cập đến khó khăn, thách thức; những giải pháp tạo đột biến, kết quả mang lại và đôi điều ghi nhận rút ra.

Nhiệm vụ nặng nề và những thách thức đặt ra.

Thực hiện mục tiêu đưa tổng sản lượng ngô cả nước đến năm 2000 lên 2,5 triệu tấn, 4 triệu tấn năm 2005 và 6 triệu tấn vào năm 2010, nhiệm vụ hết sức khó khăn đối với Viện Nghiên cứu Ngô trong những năm đầu thập niên 1990 là làm sao tạo được những tiến bộ công nghệ về giống, quy trình canh tác ngô lai trong điều kiện Việt Nam đã đi chậm so với các nước Đông Nam Á khoảng 40 năm. Mặt khác, những năm 1990-1993, hàng chục công ty kinh doanh ngô giống nước ngoài vào ào ạt, đã nắm gần như toàn bộ thị trường ngô lai nước ta với những lợi thế: tiềm lực khoa học công nghệ lớn, tài chính rất giàu và nghệ thuật kinh doanh thị trường siêu đẳng.

Trước sức mạnh cạnh tranh hùng hậu của các công ty nước ngoài, trong cơ chế thị trường, nhiều mâu thuẫn, thách thức lớn đặt ra cho các nhà nghiên cứu và phát triển ngô nước nhà, có thể thấy trên các mặt:

Thứ nhất phải nhanh chóng tạo ra được những giống ngô lai có năng suất cao, chất lượng tốt và quan trọng là phù hợp với điều kiện sinh thái Việt Nam. Đây là vấn đề khó, đòi hỏi đầu tư nhiều công sức, tiền của, thờigian và muốn thành công phải có được những yếu tố công nghệ cao.

Thứ hai là phải có được hệ thống sản xuất hạt giống chất lượng tốt. Công việc này đòi hỏi phải có một hệ thống làm giống chất lượng cao trong phạm vi cả nước; tổ chức huấn luyện, chuyển giao được những công nghệ tiến bộ đến cơ sở sản xuất và hàng triệu hộ nông dân. Muốn làm việc này, cần vốn đầu tư lớn. Theo nhiều tính toán, muốn sản xuất 100 tấn giống ngô lai phải có 1,5 tỷ đồng và để đáp ứng được yêu cầu đặt ra về giống ngô lai phải có hàng ngàn tỷ đồng đầu tư, trong khi tài sản của Viện Nghiên cứu Ngô chỉ có trên 500 triệu đồng.

Ngoài sản xuất giống trên đồng ruộng, vấn đề thứ ba là cần có hệ thống làm khô, chế biến, đóng gói công nghiệp để đảm bảo chất lượng ngang tầm hạt giống của các công ty nước ngoài. Nếu phải nhập thiết bị thì ít nhất cũng cần có hàng chục triệu USD.

Bốn là phải có chiến lược để giành lại thị trường dựa vào tiêu chí chất lượng cao, giá thành hạ trong khi về thị trường, các nhà nghiên cứu chưa có lấy được một ngày học cách kinh doanh.

Bước đi với những giải pháp táo bạo

Từ thực tế và kinh nghiệm thực hiện Chương trình trồng ngô trên nền đất ướt, những năm 1986-1990, các nhà tạo giống ngô đã thực hiện mô hình nghiên cứu với ý tưởng: làm những gì nông dân cần, sản xuất yêu cầu và nhu cầu đòi hỏi. Với quan niệm này, Trung tâm Ngô sông Bôi (nay là Viện Nghiên cứu Ngô) đã tập hợp nhiều nhà khoa học, liên kết nhiều địa phương, hợp tác xã, hộ nông dân và các cơ quan thông tin đại chúng để phát huy tối đa tiềm lực nội sinh. Nhờ vậy, nhiều kết quả nghiên cứu đã đưa được vào phát huy sản xuất có hiệu quả. Bằng cách làm này, Trung tâm đã tạo ra nguồn thu, cân bằng được ngân sách nhà nước, đồng thời có tích lũy cải thiện điều kiện làm việc và từng bước khắc phục khó khăn về tài chính.

Trên nền quỹ gen và kết quả thụ phấn tự do trong lai tạo giống ở giai đoạn I (1973-1990), trong những năm 1990-1993, các nhà tạo giống ngô đã tập trung nguồn lực vào nghiên cứu những giống ngô lai không quy ước. Tiếp đó, lai tạo để vươn lên nhằm đưa trình độ KH&CN ngô lai nước nhà ngang tầm khu vực và các công ty nước ngoài, trong vòng 10 năm, Viện Nghiên cứu Ngô đã tạo ra được 6 giống lai không quy ước và 17 giống lai quy ước có năng suất từ 5 đến 12 tấn/ha.

Với đặc tính sinh trưởng thích hợp với cơ cấu cây trồng, mùa vụ và điều kiện sinh thái Việt Nam, các giống do Viện tạo ra đã được công nhận là giống quốc gia và khu vực hóa rộng trong sản xuất. Nhờ làm chủ được công nghệ lai tạo, các giống mới cho năng suất cao, ổn định trong sản xuất với chất lượng tốt và quan trọng là giá bán chỉ bằng 1/2 đến 2/3 giá giống cùng đẳng cấp của các công ty nước ngoài. Giống ngô lai Việt Nam đã có được những ưu thế cạnh tranh.

Từ phân tích lợi thế của những giống ngô lai trong nước, chấp nhận cuộc cạnh tranh không cân sức khi thị phần ngô lai do các công ty kinh doanh nước ngoài hoàn toàn độc chiếm, các nhà khoa học của Viện Nghiên cứu Ngô đã chọn tỉnh Đồng Nai, nơi giống ngô lai Bioseed nổi tiếng được trồng rộng rãi để làm nơi thử nghiệm.

Với ý đồ luồn sâu trong lòng đối thủ mạnh để thử đọ sức, đòn quyết định của các nhà tạo giống ngô lai nước ta đã thành công rực rỡ trên diện rộng của 20ha trong các mô hình xây dựng ở huyện Xuân Lộc. Có thể coi đây là cuộc đối chứng chưa từng có giữa giống ngô lai Việt Nam với giống ngô lai nước ngoài trên đồng ruộng. Từ những kết quả ghi nhận được ngay tại các hội nghị đầu bờ, nhiều cấp lãnh đạo và đặc biệt là người trồng ngô đã đi đến kết luận: giống ngô lai Việt Nam không kém giống ngô lai nước ngoài, nhưng người trồng lại có nhiều lợi ích do giá hạt giống thấp hơn đến 50% và quan trọng là có sự hướng dẫn chu đáo và sản phẩm được bảo hành trọn vẹn.

Để nhân rộng kết quả có được, trong chuyển giao kết quả nghiên cứu vào sản xuất, trên phạm vi cả nước, giải pháp lựa chọn của Viện Nghiên cứu Ngô là liên kết thông qua hợp đồng kinh tế, chuyển giao công nghệ đến các công ty giống cây trồng TW, địa phương; công ty cổ phần và đặc biệt là những hợp đồng sản xuất, bao tiêu sản phẩm giống ngô lai với nhiều thôn, bản, các HTX và hộ nông dân. Cùng với nội dung này, việc kết hợp với các tổ chức khuyến nông và các đoàn thể quần chúng từ Trung ương đến cơ sở để xây dựng các mô hình trình diễn, huấn luyện kỹ thuật, thống nhất quy trình sản xuất, chế biến và bảo quản hạt giống đã được phổ cập đến hàng chục vạn hộ dân. Nhờ vậy, diện tích và sản lượng ngô lai nước nhà đã tăng nhanh chóng. Cùng với dựa vào sức dân, huy động tổng hợp mọi lực lượng có thể sản xuất và lưu thông giống mới, Chương trình giống ngô lai đã phối hợp có hiệu quả với ngành máy nông nghiệp để thiết kế, chế tạo hệ thống máy làm khô, chế biến đóng gói, bảo quản hạt giống ngô lai có chất lượng sản phẩm ngang tầm giống nước ngoài và giá thành giảm từ 1/3 đến 1/2.

Kết quả hoạt động của một chương trình liên kết

Thông qua chương trình ngô lai, Viện Nghiên cứu Ngô đã tạo được mối liên kết chặt chẽ giữa các tổ chức nghiên cứu, đào tạo, làm dịch vụ cung ứng giống/vật tư kỹ thuật của các ngành nông nghiệp, công nghiệp, các tổ chức xã hội, thông tin đại chúng và đặc biệt là người sản xuất trên đồng ruộng. Bằng sự liên kết này, với nguồn tài chính hạn hẹp, chương trình ngô lai Việt Nam đã hình thành được một hệ thống sản xuất hạt giống ngô lai trên địa bàn cả nước. Đến nay, hàng năm hệ thống này đã làm ra trên 7.000 tấn hạt giống có chất lượng cao với giá thành hạ đáng kể so với giống có chất lượng tương đương của nước ngoài.

Với hệ thống sản xuất và lưu thông hạt giống được tạo lập, nếu trong giai đoạn 1990-1995, 100% thị phần ngô lai bị các công ty nước ngoài chiếm lĩnh thì đến năm 2002, ngô lai Việt Nam đã giành lại được trên 60% thị phần và đang làm chủ 2 tiêu chí lớn trong cạnh tranh là chất lượng cao và giá thành hạ. Ngoài đáp ứng nhu cầu trong nước, giống ngô lai Việt Nam đã bắt đầu tham gia vào thị trường quốc tế, đã xuất khẩu trên 160 tấn hạt giống đến các nước Đông Nam Á và Ấn Độ trong năm 2003.

Nhờ quan hệ gắn bó giữa nghiên cứu và sản xuất, hiệu quả nghiên cứu khoa học đã được khẳng định ngay trên đồng ruộng. Trong thời gian từ 1990 đến 2002, tổng sản lượng ngô Việt Nam đã tăng 4 lần, năng suất ngô cả nước tăng gấp 2; ở nhiều vùng ngô rộng lớn năng suất bình quân đã đạt từ 5 đến 7 tấn/ha vụ. So với các nước trên thế giới và trong khu vực, tổ chức Nông Lương Thế giới (FAO), Trung tâm Ngô Quốc tế (CIMMYT) đánh giá Chương trình nghiên cứu và phát triển ngô lai Việt Nam có tốc độ phát triển nhanh nhất thế giới. (10 năm gần đây, tăng trưởng ngô bình quân hàng năm ở Việt Nam đã đạt 3,7% về diện tích, 5,5% về năng suất và 9,2% về sản lượng, trong khi tỷ lệ tương ứng trên thế giới là 0,7%; 2,4% và 3,1%).

Chương trình nghiên cứu triển khai giống và phát triển ngô lai nước ta đã đi lên bằng phát huy tối đa năng lực nội sinh. Ngoài tiết kiệm mỗi năm hàng chục triệu USD nhập khẩu hạt giống và thiết bị, chương trình đã làm lợi cho nhà nông hàng trăm tỷ đồng/năm, góp phần tạo ra nhiều việc làm và mở ra triển vọng tốt đẹp trong xây dựng những cánh đồng 50 triệu đồng/ha ở nhiều vùng.

Thông qua hoạt động chuyển giao, đưa tiến bộ KH&CN vào sản xuất và liên kết sản xuất kinh doanh, làm dịch vụ, Viện Nghiên cứu Ngô đã tạo ra doanh thu khoảng 2 triệu USD/năm. Hàng năm, Viện đã nộp vào ngân sách nhà nước trên 2 tỷ đồng, có thêm nguồn tài chính để mua sắm trang thiết bị, tăng cường năng lực đảm bảo nhiệm vụ nghiên cứu của ngành.

Đôi điều ghi nhận

Phân tích những yếu tố tạo thành công trong điều kiện cạnh tranh không cân sức, trao đổi với các nhà nghiên cứu và quản lý trong ngành, chúng tôi nhận thức sâu sắc rằng:

Từ một đất nước đi sau các nước trong khu vực 40 năm về Chương trình phát triển ngô lai, chiến lược nghiên cứu và phát triển ngô lai nước ta đã xác định đúng hướng để kết hợp hài hòa, có chọn lọc KH&CN hiện đại với công nghệ truyền hệ thống và dựa vào chính sức mình để phấn đấu vươn lên.

Trong chiến lược phát triển, ngành ngô và Viện Nghiên cứu Ngô nước nhà đã sớm đổi mới tư duy, tìm ra được giải pháp thích hợp để chuyển hướng nghiên cứu từ phụ thuộc vào cơ chế "xin - cho" bao cấp sang gắn với sản xuất kinh doanh, thông qua liên kết để phát huy cao nhất nội lực phục vụ sản xuất trong cơ chế thị trường.

Với phương châm nghiên cứu những gì mà nông dân cần, làm những gì mà sản xuất yêu cầu và thị trường đòi hỏi; kết quả nghiên cứu đã trở thành hàng hóa đích thực vừa có lợi cho người dân, vừa đem lại lợi ích để nâng cao tiềm lực KH&CN trong ngành. Việc gắn Nghiên cứu-Triển khai, chuyển giao công nghệ với thị trường thành một mô hình khép kín đã tạo cho ngành một sức mạnh tổng hợp. Có lẽ đây chính là động lực để phát triển, đưa trình độ KH&CN tạo giống ngô lai nước ta vươn lên ngang tầm các công ty nước ngoài và từ đó đã từng bước giành giật lại được thị trường.

Bài học sâu sắc có thể rút ra đó là quan điểm phục vụ sản xuất. ở đây, kết quả nghiên cứu được khẳng định là "Của dân-vì dân và do dân thực hiện". Kết quả được đưa vào sản xuất nhanh chóng khi đem lại lợi ích kinh tế cho dân và việc chuyển giao phù hợp với khả năng tiếp thu, được dân đồng tình hưởng ứng. Một khi KH&CN đi vào lòng dân, được dân tự nguyện tham gia đã tạo nên sức mạnh tổng hợp để đột phá đi lên.

Chương trình ngô lai nước ta đã tập hợp được các tổ chức nghiên cứu có liên quan, liên kết được với nhiều địa phương, doanh nghiệp, các cơ quan thông tin, đoàn thể quần chúng, dựa vào tiềm lực của dân kết hợp với sự hỗ trợ, giúp đỡ có hiệu quả của nhiều tổ chức quốc tế đã nhanh chóng tạo ra những tiến bộ KH&CN về ưu thế lai và quan trọng là chuyển nhanh được những kết quả tạo ra vào sản xuất. Đây cũng là kinh nghiệm quý báu có thể rút ra.

 

 
Trung tâm Thông tin Khoa học Công nghệ Quốc gia