Tìm kiếm nâng cao

Số truy cập:
Home » Cơ sở dữ liệu toàn văn » Ấn phẩm điện tử » Tri thức và phát triển » 2006 » Số 53 » HỘI NHẬP VÀ PHÁT TRIỂN » Quản lý chất lượng nông sản: Con đường tất yếu để hội nhập

Quản lý chất lượng nông sản: Con đường tất yếu để hội nhập

  
Dạng tài liệu : Bài trích bản tin
Ngôn ngữ tài liệu : vie
Tên nguồn trích : Tri thức và phát triển
Dữ liệu nguồn trích : 2006/Số 53/HỘI NHẬP VÀ PHÁT TRIỂN
Đề mục : 06.59 Kinh tế các nước đang phát triển
Từ khoá : nông sản
Nội dung:
Quản lý chất lượng nông sản: Con đường tất yếu để hội nhập
Trong bối cảnh Việt Nam vừa trở thành thành viên WTO, một cơ hội lớn sẽ được mở ra để thâm nhập vào thị trường nông sản thế giới trị giá 548 tỷ USD/năm. Tuy nhiên, chỉ riêng khu vực châu Á cũng có ít nhất gần một tỷ tấn nông sản đang chờ Việt Nam mở cửa, báo hiệu cuộc cạnh tranh nảy lửa ngay trên "sân nhà". Trong bối cảnh đó, điều đáng mừng là các doanh nghiệp kinh doanh nông sản đã bắt đầu nói nhiều hơn đến quản lý chất lượng, ứng dụng chu trình nông nghiệp an toàn để đón trước tình hình.
Đi đường vòng vì chất lượng kém
Là một cường quốc xuất khẩu nông sản như gạo, cà phê, hồ tiêu… với mức tăng trưởng xuất khẩu hằng năm lên đến 15%, có mặt ở hơn 80 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới nhưng tới 90% nông sản của Việt Nam phải "khoác áo" thương hiệu nước ngoài mới xuất khẩu được. Bỏ qua yếu tố thiếu chiến lược thương hiệu (dù đây cũng là một nguyên nhân quan trọng), sở dĩ nông sản Việt Nam phải đi đường vòng vì khâu chế biến của các doanh nghiệp Việt Nam quá yếu kém, chất lượng không đảm bảo.
Mặt hàng trái cây là một ví dụ. Là xứ nhiệt đới, trái cây Việt Nam phong phú, dồi dào song chất lượng, kích thước, hình dáng không đồng đều và đặc biệt một số quy trình trồng trọt bị cho là thiếu an toàn. Chính vì vậy, ngay cả thị trường Trung Quốc cũng đã giảm số lượng nhập khẩu trái cây Việt Nam từ 140 triệu USD kim ngạch vào năm 2001 xuống còn khoảng 20 triệu USD hiện nay.
Kể về hành trình xuất khẩu hồ tiêu, ông Đỗ Hà Nam, Chủ tịch Hiệp hội hồ tiêu cũng thừa nhận, để vào được thị trường EU, đa phần hồ tiêu Việt Nam phải qua các công ty trung gian nước ngoài để họ sơ chế lại cho đạt các tiêu chuẩn nhập khẩu. Tương tự là cà phê của tỉnh Đăk Lăk mỗi năm thất thu khoảng 100 triệu USD do phải tiêu thụ qua trung gian.
Chất lượng không đảm bảo, không được quản lý nghiêm ngặt còn là lý do cản trở các nhà kinh doanh nông sản Việt Nam tự xây dựng thương hiệu. Làm sao có được một thương hiệu mạnh khi chất lượng nông sản không ổn định, kích cỡ "loạn xị ngầu" và chứa nhiều tạp chất…
Nông sản sạch lên ngôi
Nông sản đạt tiêu chuẩn xuất khẩu ngày nay không chỉ phải thỏa mãn được các điều kiện khắt khe về chất lượng, độ đồng đều, an toàn vệ sinh mà còn phải đáp ứng được cả những tiêu chuẩn nghiêm khắc về chế độ nuôi trồng và tính bền vững trong việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên. Mặt khác, siết chặt việc quản lý nông sản cũng là yêu cầu cấp bách để nông sản Việt Nam vượt qua được các rào cản thương mại dưới "vỏ" tiêu chuẩn kỹ thuật hay các biện pháp về an toàn nông sản theo tiêu chuẩn của WTO (SPS). Chẳng hạn tháng 5 tới đây, quy định mới về tiêu chuẩn nhập khẩu thực phẩm với hàm lượng tối thiểu về dư lượng hoá chất, như thuốc trừ sâu của Nhật Bản sẽ chính thức có hiệu lực, ảnh hưởng đến 50.000 mặt hàng nhập khẩu. Do đó, cách tiếp cận tốt nhất là tuân thủ các tiêu chuẩn quốc tế về nông sản và thực phẩm như tiêu chuẩn của IPPC, OIE, CODEX và GMP…
Các tiêu chuẩn này đều quy định khắt khe về quá trình sản xuất, thu hoạch nông sản. Điển hình là chu trình nông nghiệp an toàn (Chu trình GAP: Good Agriculture Practice). GAP đòi hỏi không có dư lượng thuốc trừ sâu và thuốc kích thích tăng trưởng trong nông phẩm.
Tuy nhiên, khái niệm sản xuất "sạch" như vậy còn tương đối mới trong điều kiện sản xuất manh mún, mạnh ai nấy làm của Việt Nam. Từ lúa gạo đến cà phê, chè, rau quả… hiện đều được sản xuất trên một dây chuyền hết sức thô sơ nên không đảm bảo các tiêu chuẩn kỹ thuật về độ đồng đều, nhất quán… và đặc biệt là hiện tượng "bội thực" dư lượng thuốc trừ sâu và thuốc bảo vệ thực vật do nông dân sử dụng tuỳ tiện. Bài học ngành chè là một điển hình về việc lạm dụng các loại hóa chất, tạp chất khiến mất nhiều thị trường.
Đã đến lúc các cơ quan chức năng cần có một chiến lược tuyên truyền và hướng dẫn cụ thể tới các nhà vườn, các trang trại về các quy trình sản xuất sạch, đảm bảo an toàn và không lạm dụng hóa chất. Đồng thời với đó là một hệ thống thanh tra, kiểm tra và chứng nhận chất lượng nông sản thống nhất trên toàn quốc nhằm có một quy chuẩn nhất quán vế chất lượng thay vì tình trạng manh mún hiện nay. Ngoài ra, nhà nước còn phải giúp nông dân tổ chức những hiệp hội để nhà nông-nhà kinh doanh-nhà khoa học hợp tác làm việc, qua đó chuyển giao công nghệ về kỹ thuật canh tác, quản lý sau thu hoạch, chu trình GAP, các yêu cầu về lượng - chất lượng của thị trường trong nước và xuất khẩu… Để có thể cạnh tranh trong nước và thâm nhập vào thị trường thế giới, rõ ràng nông sản Việt Nam cần một cuộc cách mạng về phương thức, cần thay đổi lề thói làm ăn manh mún, thủ công bằng cách ứng dụng hiệu quả khoa học kỹ thuật trên đồng ruộng. Chỉ có cách đó, nông sản Việt Nam mới có được sản lượng lớn, chất lượng cao đảm bảo an toàn vệ sinh và giá thành rẻ.
Theo dự báo của Tổ chức Nông lương Thế giới (FAO), hiện nhu cầu tiêu thụ các mặt hàng nông sản trên thế giới ngày càng tăng do mức tăng trưởng kinh tế và dân số giai đoạn 2005-2010 cao. Đó là cơ hội của nông sản Việt Nam. Do đó, việc xây dựng những tiêu chuẩn quản lý chất lượng nông phẩm không chỉ thúc đẩy nông sản nội tiến lên mà còn là hàng rào hữu hiệu bảo vệ khả năng lây lan dịch bệnh từ hàng nông sản ngoại. Có thể khẳng định, xây dựng và quản lý tốt chất lượng nông sản là con đường tất yếu để nông sản Việt Nam hội nhập thành công.
Nguồn: Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn
 
Trung tâm Thông tin Khoa học Công nghệ Quốc gia