Vấn đề bản quyền phần mềm trong bối cảnh Việt Nam đã là thành viên WTO |
||
| Dạng tài liệu | : | Bài trích bản tin |
| Ngôn ngữ tài liệu | : | vie |
| Tên nguồn trích | : | Tri thức và phát triển |
| Dữ liệu nguồn trích | : | 2006/Số 52/HỘI NHẬP VÀ PHÁT TRIỂN: |
| Đề mục | : | 85.01 Các vấn đề chung |
| Từ khoá | : | Bản quyền phần mềm ; Việt Nam ; WTO |
| Tóm tắt tiếng Việt | ||
|
Mua bản quyền phần mềm? Sử dụng phần mềm nguồn mở? Việt Nam sẽ nghiêng về giải pháp nào, trước yêu cầu bảo vệ sở hữu trí tuệ sau khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)?
|
||
| Nội dung: | ||
|
Xiết chặt hơn
Việt Nam đã tỏ rõ hơn quyết tâm đấu tranh với nạn vi phạm bản quyền. Từ năm 2005 đến nay, liên tục các đoàn thanh tra tiến hành kiểm tra các điểm kinh doanh máy tính, với mức độ vi phạm bản quyền lên tới 200-300 triệu đồng/công ty. Các bộ phần mềm thường bị vi phạm là Windows XP, Office XP, Từ điển Lạc Việt, bộ gõ Vietkey... Nhưng cũng từ giữa năm nay, một số đơn vị trong nước đã “làm gương” trong vấn đề tôn trọng bản quyền phần mềm. Mới đây nhất, hôm 5/12/2006, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) và Microsoft Việt Nam ký biên bản ghi nhớ hợp tác trong vấn đề bản quyền phần mềm. Với cam kết này, BIDV là ngân hàng quốc doanh thứ hai của Việt Nam, sau Ngân hàng Ngoại thương (Vietcombank), trang bị và sử dụng phần mềm có bản quyền. Trước đó, còn phải kể tới việc Bộ Tài chính ký thoả thuận mua 15.000 bản phần mềm văn phòng của Microsoft, Công ty FPT mua bản quyền phần mềm cho 4.500 máy tính, hay Công ty VinaGame phần mềm cũng của Microsoft. Đó là một phần trong những nỗ lực của Việt Nam nhằm giảm thiểu tình trạng vi phạm bản quyền - vốn đã bị xếp hạng mức độ vi phạm ở mức cao trong Báo cáo Toàn cảnh Công nghệ thông tin của Liên minh Phần mềm thương mại (BSA) và Tập đoàn IDG năm 2005, theo đó, "Việt Nam và Zimbabwe là 2 quốc gia đứng đầu về vi phạm bản quyền phần mềm, với tỷ lệ là 90%". Trong khi đó, tỉ lệ vi phạm chung trên toàn thế giới là 35-40%. Đắt hay rẻ? Trước việc ngày càng nhiều đơn vị tại Việt Nam ký cam kết lộ trình mua bản quyền sử dụng các phần mềm của Microsoft, ông Christophe Desriac, Trưởng đại diện Microsoft tại Việt Nam, không giấu hy vọng “ngày càng có nhiều doanh nghiệp Việt Nam sẽ thực hiện tốt luật bản quyền để môi trường công nghệ thông tin nói chung, và ngành công nghiệp phần mềm Việt Nam phát triển lành mạnh hơn”. Tuy nhiên, theo Hội Tin học Việt Nam, nếu làm giảm vi phạm bản quyền bằng cách mua bản quyền phần mềm theo kiểu "dây chuyền", Việt Nam sẽ phải chi trả một số tiền khổng lồ. Đơn cử, với mức tăng trưởng 25%/năm, thì trong 5 năm tới, thị trường Việt Nam sẽ có khoảng 6 triệu máy tính mới. Điều này có nghĩa Việt Nam sẽ phải trả ít nhất khoảng 3 tỷ USD khi mua bản quyền phần mềm văn phòng (tối thiểu là Windows và Office) cho 6 triệu máy tính này. Nếu chỉ tính riêng việc mua bản quyền phần mềm cho tất cả các cơ quan nhà nước, hiện đang có khoảng 2 triệu nhân viên, số tiền phải bỏ ra cũng sẽ phải lên đến hàng trăm triệu USD. Không chỉ “xót” của, Tổng thư ký Hội Tin học Việt Nam, ông Nguyễn Long còn cho hay: "Điều này có vẻ ngược lại với Quyết định 169/2006/QĐ-TTg ngày 17/7/2006. Đó là, phải ưu tiên mua sắm, sử dụng sản phẩm công nghệ thông tin được sản xuất trong nước; và ưu tiên đầu tư, mua sắm sử dụng các sản phẩm phần mềm nguồn mở, đặc biệt là các sản phẩm do các doanh nghiệp trong nước khai thác, cung cấp". Và nếu chỉ dùng duy nhất các sản phẩm phần mềm thương mại, thì phần mềm nguồn mở (OSS) ở Việt Nam còn đất "dụng võ" đối với nhà nước, doanh nghiệp và xã hội hay không, ông Long băn khoăn. Do vậy, Hội Tin học đã gửi văn bản đóng góp ý kiến tới Chính phủ và Ban Chỉ đạo quốc gia về công nghệ thông tin, đề nghị cân nhắc kỹ hơn khi đặt vấn đề mua bản quyền phần mềm văn phòng thông dụng cho tất cả các cơ quan Chính phủ nhằm làm giảm tỷ lệ vi phạm bản quyền. Hội cũng đề xuất cần nâng cao việc sử dụng phần mềm nguồn mở trong cộng đồng, hay nói cách khác là: Hiện tại, một số quốc gia có tỷ lệ vi phạm bản quyền khá cao như Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan,... cũng không lựa chọn việc mua bản quyền phần mềm thương mại là giải pháp duy nhất. Trung Quốc (tỷ lệ vi phạm 86%) đã triển khai chính sách “Người nội xài phần mềm nội” bằng cách cung cấp các máy tính sử dụng phần mềm nguồn mở Linux. Ấn Độ (tỷ lệ vi phạm 74%) thì phát miễn phí các đĩa CD chứa phần mềm nguồn mở qua chương trình “Hãy nói theo cách của bạn”,... Nhưng liệu đã có nhiều phần mềm nguồn mở đủ khả năng cạnh tranh với các phần mềm thương mại thông dụng? Câu trả lời là có, theo ý kiến của một số chuyên gia, chẳng hạn phần mềm nguồn mở miễn phí Open Office đủ khả năng thay thế cho Microsoft Office, thậm chí còn có một số tính năng mạnh hơn, với chi phí dịch vụ cho cài đặt, chuyển đổi khá rẻ. Một ví dụ trong nước cho việc dùng phần mềm nguồn mở là Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín (Sacombank). Năm 2006, Sacombank đã lựa chọn phần mềm Open Office để thay thế Microsoft Office cho các máy tính tại 160 điểm giao dịch trên toàn quốc. Theo Sacombank, quyết định này đã tiết kiệm hơn 800.000 USD tiền mua bản quyền. Tất nhiên, Sacombank vẫn phải mua bản quyền Microsoft Office cho một số máy tính do đặc thù công việc, nhưng số tiền họ bỏ ra là không đáng kể. Tìm ra một hướng đi có lợi nhất trong hoàn cảnh đặc thù hiện tại của Việt Nam có lẽ là điều cần suy nghĩ, khi chúng ta đang tìm cách giảm tỷ lệ vi phạm bản quyền phần mềm, bởi tôn trọng bản quyền, rõ ràng, không đồng nghĩa với việc mua bản quyền một cách thiếu cân nhắc. Nguồn: Thời báo Kinh tế Việt Nam, 12/2006 |
||
