Tìm kiếm nâng cao

Số truy cập:
Home » Cơ sở dữ liệu toàn văn » Ấn phẩm điện tử » Tri thức và phát triển » 2006 » Số 43 » HỘI NHẬP VÀ PHÁT TRIỂN » Một số kinh nghiệm đối với Việt Nam trong quá trình gia nhập và vận dụng cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO

Một số kinh nghiệm đối với Việt Nam trong quá trình gia nhập và vận dụng cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO

  
Dạng tài liệu : Bài trích bản tin
Ngôn ngữ tài liệu : vie
Tên nguồn trích : Tri thức và phát triển
Dữ liệu nguồn trích : 2006/Số 43/HỘI NHẬP VÀ PHÁT TRIỂN
Đề mục : 06.99 Các vấn đề khác của kinh tế và khoa học kinh tế
Từ khoá : WTO
Nội dung:
Gia nhập WTO là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế. Cần phải thấy rằng khi gia nhập WTO, tham gia vào cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO, chúng ta đương nhiên sẽ có những nghĩa vụ nhất định nhưng đổi lại chúng ta sẽ được hưởng những lợi ích mà WTO mang lại cho các thành viên của mình.
Xác định rõ cơ hội và thách thức khi Việt Nam gia nhập WTO
Để đảm bảo cho việc tham gia WTO đạt được hiệu quả cao nhất, chúng ta cần xem xét những vấn đề đặt ra đối với quá trình gia nhập của Việt Nam trên các lĩnh vực là kinh tế - xã hội và pháp luật. Tuy nhiên không thể xem xét các lĩnh vực này một cách độc lập, cần phải xem xét chúng trong mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại với nhau.
Với hệ thống đồ sộ những hiệp định, quy định trong các lĩnh vực thương mại, dịch vụ, sở hữu trí tuệ v.v... của WTO (toàn bộ hệ thồng quy tắc của WTO hiện nay bao gồm hơn 60 hiệp định, dài đến 30.000 trang chia thành ba phần cơ bản: Phần 1 – Những hiệp định cơ bản (GATT, GATS, TRIMs TRIPs); Phần 2 – Những hiệp định trong từng lĩnh vực cụ thể như nông nghiệp, dệt may, hàng không, hàng hải, chống bán phá giá...; Phần 3 – Lộ trình hoặc danh sách những cam kết của các thành viên về thuế quan hay mở cửa thị trường), việc đi sâu tìm hiểu, xác định lộ trình cũng như cơ hội và thách thức trong từng lĩnh vực là nhiệm vụ vô cùng quan trọng đối với Việt Nam, trên cơ sở đó điều chỉnh hệ thống chính sách, pháp luật trong nước cho phù hợp với yêu cầu của WTO nhằm đẩy nhanh công cuộc phát triển kinh tế đất nước, hạn chế tối đa tranh chấp thương mại không đáng có và cải thiện hình ảnh của Việt Nam trên trường quốc tế.
Điều chỉnh chính sách, pháp luật kinh tế - thương mại cho phù hợp với các quy định của WTO
Hầu hết các nước, để được công nhận là thành viên của WTO, đều phải nghiên cứu, xem xét điều chỉnh chính sách, hệ thống pháp luật nước mình cho phù hợp với những quy định của WTO. Việt Nam đã hoàn tất đàm phán giai đoạn cuối để gia nhập WTO, trong khi một số chính sách và quy định của pháp luật còn chưa tương thích với các quy định của WTO, Việt Nam cần điều chỉnh những quy định chưa tương thích đó. Hơn nữa, khi đã trở thành thành viên của WTO, nếu Việt Nam vẫn duy trì chính sách hay biện pháp trái với các quy định của WTO thì sẽ bị các nước thành viên khác đưa vụ việc này ra giải quyết theo cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO. Nếu DSB khẳng định chính sách, hoàn thiện hệ thống pháp luật cho phù hợp với các quy định của WTO (đặc biệt chú ý đến nguyên tắc tối huệ quốc và đãi ngộ quốc gia). Tuy nhiên, việc điều chỉnh phải đảm bảo cho các ngành kinh tế trong nước phát triển, phải có sự chọn lọc trong quá trình điều chỉnh và việc điều chỉnh cần có lịch trình cụ thể.
Nghiên cứu, vận dụng thành công những ưu đãi của WTO dành cho các nước đang phát triển
Các quy định trong Hiệp định của WTO được đặt ra mức độ tiêu chuẩn cao so với các nước đang phát triển. Do đó, các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam khó có thể đáp ứng đầy đủ các quy định này. Để bảo đảm quyền lợi của các nước đang phát triển khi tham gia vào hệ thống thương mại đa biên, WTO dành cho các nước này một số ưu đãi nhất định (ưu đãi về không phải thực hiện nghĩa vụ nào đó, thời gian thực hiện nghĩa vụ dài hơn...). Mặc dù vậy, nhiều tranh chấp xảy ra trong thời gian vừa qua do các nước thành viên phát triển kiện các nước thành viên đang phát triển, vì các nước thành viên đang phát triển vi phạm những quy định về ưu đãi này. Chính vì vậy, khi trở thành thành viên của WTO và trực tiếp tham gia vào cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO, Việt Nam cần nghiên cứu thật kỹ cơ chế này để vận dụng tối đa những ưu điểm mà WTO dành cho các nước đang phát triển. Điều này sẽ giúp cho Việt Nam có những thuận lợi nhất định và giảm được chi phí vì được WTO trợ giúp về mặt pháp lý, đồng thời cũng tránh được các nước thành viên, nhất là các thành viên phát triển kiện mình.
Một vấn đề thường ít gây được sự chú ý của các nhà hoạch định chính sách, nhất là tại các nước có truyền thống pháp luật thành văn như Việt Nam, là ý nghĩa, vai trò của tranh chấp và giải quyết tranh chấp. Trong khi đó, tại các nước có truyền thống pháp luật án lệ thì các quyết định mà tòa án giải quyết tranh chấp luôn được coi là một nguồn pháp luật. Chính vì vậy, một điều quan trọng đối với Việt Nam là ngay từ khi bắt đầu tham gia hội nhập kinh tế quốc tế, cần nghĩ ngay tới những tình huống không thuận lợi, các bất đồng, xung đột và tranh chấp có thể xảy ra, và rút ra kinh nghiệm từ các tranh chấp thực tế đã xảy ra rồi (các tranh chấp thương mại đối với cá basa, giày dép, bật lửa...).
Chuẩn bị tốt về luật sư, tài liệu, tài chính và tâm lý khi theo kiện
Trước khi khiếu kiện, chúng ta phải chuẩn bị chu đáo, đầy đủ chứng cứ, lập luận theo các Hiệp định có liên quan của WTO để trình ra Ban hội thẩm, Cơ quan phúc thẩm, trọng tài trong quá trình giải quyết tranh chấp. Phải nêu rõ chính sách thương mại hay biện pháp thương mại nào đang gây ra tranh chấp với nước mình và tóm tắt cơ sở pháp lý cho vụ tranh chấp. Phải chứng minh chính sách hay biện pháp thương mại này vi phạm điều nào của hiệp định nào của WTO và ảnh hưởng thế nào đến quyền lợi của nước mình. Các chứng cứ này giúp cho Việt Nam có sơ sở pháp lý thuyết phục các cơ quan giải quyết tranh chấp đưa ra những kết luận chính xác. Nếu không nghiên cứu kỹ mà vội vàng kết luận rồi tiến hành tham vấn và khiếu nại ra DSB thì khó thành công, nhiều khi còn phản tác dụng, không những làm mất uy tín của nước mình mà còn tốn kém về tài chính. Đồng thời, phải yêu cầu nước thành viên tham gia tranh chấp chứng minh những lập luận mà họ đã nêu ra. Trong quá trình tranh chấp, việc gửi báo cáo cho Ban hội thẩm, Cơ quan phúc thẩm phải đúng thời hạn và phải có mặt tại các phiên họp của các Cơ quan này để phát biểu, trình bày ý kiến lập luận của nước mình.
Cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại ngày càng trở nên phức tạp, kéo dài và tốn kém hơn. Quy trình tố tụng có xu hướng phân thành hai cấp: sơ thẩm và phúc thẩm. Qúa trình giải quyết tranh chấp gắn liến với việc xem xét các vấn đề mang tính kỹ thuật cao và chứa đựng nhiều vấn đề pháp lý phức tạp. Đây thực sự là những trở ngại cho các nước có các nguồn lực hạn chế khi theo đuổi các vụ kiện. Việc chuẩn bị cho một vụ kiện tại WTO là một khó khăn rất lớn cho các thành viên WTO, đặc biệt là các nước đang phát triển.
Quá trình giải quyết tranh chấp tại WTO có nguy cơ ảnh hưởng xấu tới mối quan hệ kinh tế - thương mại giữa các bên, nhất là trong trường hợp nước vi phạm là nước phát triển cố tình vi phạm. Nếu bị nước đang phát triển khiếu nại tới DSB thì một nước phát triển có thể tìm mọi cách, kể cả cớ để khiếu nại lại nước đang phát triển này và từ đó mà viện cớ trả đũa nhiều hơn. Như vậy, nước đang phát triển sẽ gặp bất lợi nhiều vì nước này vốn đang dựa nhiều vào hoạt động xuất nhập khẩi, đầu tư, viện trợ kinh tế với nước phát triển. Do đó, Việt Nam cần chuẩn bị tốt về tâm lý để theo kiện đến cùng và bảo vệ đến cùng quyền lợi chính đáng của nước mình.
Tuyên truyền ý thức pháp luật thương mại quốc tế cho các doanh nghiệp và công chúng để hạn chế xảy ra tranh chấp.
Các tranh chấp trong WTO, về cơ bản đều xuất phát từ tranh chấp lợi ích của các doanh nghiệp. Vì vậy, việc thông tin tuyên truyền nâng cao ý thức pháp luật trong làm ăn, sự hiểu biết pháp luật thương mại quốc tế cho các doanh nghiệp Việt Nam là rất cần thiết. Song song với các doanh nghiệp là vai trò của dịch vụ tư vấn pháp luật cần được nâng cao về chất lượng để giúp cho các doanh nghiệp làm ăn đúng pháp luật, tránh những thiệt hại đáng tiếc. Nếu là thành viên của WTO vụ kiện chống bán phá giá cá tra, ba sa hoặc vụ kiện tôm phía Mỹ để có một phán quyết công bằng, giảm bớt thiệt hại cho nông dân và các doanh nghiệp Việt Nam.
Có thể khẳng định, việc tham gia WTO cũng là đồng thời tham gia vào cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO. Nhưng để chủ động tham gia vào WTO cũgn như cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO, chúng ta cần thấy trước được khả năng xảy ra tranh chấp trong WTO đối với Việt Nam. Điều này có thể được khẳng định ở một số lý do, mà trước hết có thể nói các lĩnh vực mà WTO điều chỉnh là khá mới mẻ đối với Việt Nam, chẳng hạn như thương mại dịch vụ, sở hữu trí tuệ, các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại... Bên cạnh đó, ý thức tuân thủ pháp luật của các doanh nghiệp cũng như công dân Việt Nam còn chưa cao. Điều đó sẽ dẫn tới việc các quy định của WTO không được thực thi nghiêm chỉnh. Đồng thời một số lượng lớn các doanh nghiệp nhà nước vẫn chưa đoạn tuyệt được với thói quen ỷ lại, trông chờ vào sự hỗ trợ từ phía Nhà nước. Vì vậy trước xu thế của quá trình hội nhập, các doanh nghiệp này rất lúng túng và chưa tạo được thế chủ động để tham gia vào quá trình hội nhập kinh tế này.
Từ những nhận định trên, Việt Nam cần phải tìm cách để hạn chế tối đa khả năng xảy ra tranh chấp. Khi tranh chấp xảy ra, chúng ta cần phải có những phương sách thích hợp để phát huy những kinh nghiệm giải quyết tranh chấp quốc tế của Việt Nam để giải quyết nhanh chóng các tranh chấp trong WTO, tránh được những tổn thất kinh tế đáng tiếc và bảo vệ được quyền lợi chính đáng của mình.
Xây dựng hệ thống tin minh bạch phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế
Xây dựng hệ thống thông tin minh bạch và phù hợp với chuẩn quốc tế là đòi hỏi quan trọng trong giai đoạn hiện nay, đặc biệt là khi Việt Nam gia nhập WTO. Hệ thống này sẽ giúp tiết kiệm thời gian và chi phí trong việc theo đuổi các vụ kiện, nâng cao tính hiệu quả trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp cũng như trong việc quản lý hoạt động kinh doanh. Hệ thống thông tin minh bạch, được cập nhật thường xuyên là cơ sở để chúng ta chuẩn bị và trả lời nhanh chóng các bản câu hỏi điều tra khi bị kiện, đó cũng là vũ khí hữu hiệu để Việt Nam tiến hành khởi kiện khi quyền lợi của mình bị vi phạm.
Nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước
Hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước cần phải được tăng cường, đặc biệt là về trình độ cũng như ý thức tông trọng pháp luật. Hiện nay tình trạng pháp luật của Nhà nước không được thực hiện một cách thống nhất từ trung ương đến địa phương là một vấn đề nổi cộm, làm ảnh hưởng rất lớn đến môi trường đầu tư. Vì vậy yêu cầu này cần phải được tập trung giải quyết trong giai đoạn tới, góp phần đảm bảo tính minh bạch của hệ thống pháp luật, hạn chế tối đa khả năng xảy ra tranh chấp.
Hiện nay, những hiểu biết về kinh tế quốc tế của đội ngũ thẩm phán nhìn chung còn yếu, công tác đào tạo, phổ biến về những yêu cầu của các tổ chức kinh tế quốc tế cho đội ngũ cán bộ này chưa được thực hiện. Tình trạng này xảy ra tương tự đối với đội ngũ trọng tài viên. Do đó, khả năng giải quyết những tranh chấp kinh tế quốc tế phức tạp bằng tòa án hay trọng tài sẽ rất hạn chế, điều đó đã được chứng minh trong thực tiễn thời gian qua. Vì vậy, việc đào tạo đội ngũ thẩm phán, trọng tài viên chuyên trách có trình độ cao về chuyên môn pháp lý và kinh tế quốc tế là rất cần thiết và phải được thực hiện càng sớm càng tốt.
Thực hiện tốt các cam kết quốc tế
Với vai trò là cơ chế làm rõ các quy định của WTO, cơ chế giải quyết tranh chấp đang được sử dụng hiệu quả cho các nước biết được các cam kết của mình trong WTO là thế nào. Chính vì vậy, khi cân nhắc đưa ra các cam kết quốc tế và đi cùng với nó là nghĩa vụ bảo đảm thực thi các cam kết này trong hệ thống phápluật - Việt Nam không thể không nhìn vào các phán quyết và quyết định giải quyết tranh chấp của WTO. Hệ quả là các quy định pháp luật trong nước khi được điều chỉnh không thể chỉ bám vào lời văn của quy định, mà cần tính đến việc giải thích của WTO về quy định này.
Để đảm bảo được sự tham gia chủ động vào cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO, trước hết chúng ta cần phải nắm vững các yêu cầu cũng như lợi ích mà Việt Nam có được khi gia nhập WTO. Trên cơ sở đó ,chúng ta cần phải thực hiện nghiêm chỉnh các yêu cầu của WTO, từ đó sẽ hạn chế tối đa các nguy cơ xảy ra tranh chấp. Chúng ta cần hiểu rõ, mặc dù WTO là quan hệ thương mại đa phương nhưng trong tranh chấp lại là các quan hệ song phương. Vì vậy chúng ta cần phải phát huy triệt để những biện pháp giải quyết tranh chấp truyền thống của công pháp quốc tế như thương lượng, trung gian, hòa giải. Đó cũng là điểm mạnh của Việt Nam trong quá khứ cần phải được khai thác triệt để.
Đào tạo đội ngũ chuyên gia giỏi để tham gia quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Cùng với quá trình hội nhập, các hoạt động động kinh tế ngày càng phát triển sẽ dẫn đến sự gia tăng của các tranh chấp thương mại quốc tế. Đồng thời trong lúc này, đối tác làm ăn của chúng ta thường là những người rất am hiểu về pháp luật thương mại quốc tế, chặt chẽ và sòng phẳng về mặt pháp lý. Do đó, ngoài những công việc nêu trên, để tham gia một cách chủ động vào cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO, Việt Nam cần phải có sự đầu tư thích đáng vào việc xây dựng được một đội ngũ cán bộ có kiến thức chuyên sâu về từng lĩnh vực trong WTO. Đội ngũ cán bộ này sẽ là xương sống của quá trình giải quyết các tranh chấp của Việt Nam phát sinh trong khuôn khổ WTO nói riêng và thương mại quốc tế nói chung.
Nguồn: Nghiên cứu kinh tế tháng 06/2006
 
Trung tâm Thông tin Khoa học Công nghệ Quốc gia