Tìm kiếm nâng cao

Số truy cập:
Home » Cơ sở dữ liệu toàn văn » Ấn phẩm điện tử » Tri thức và phát triển » 2006 » Số 41 » XU THẾ, DỰ BÁO, CHIẾN LƯỢC, CHÍNH SÁCH: » Kinh tế châu Á với các Khu mậu dịch tự do có nguy cơ bị chồng chéo

Kinh tế châu Á với các Khu mậu dịch tự do có nguy cơ bị chồng chéo

  
Dạng tài liệu : Bài trích bản tin
Ngôn ngữ tài liệu : vie
Tên nguồn trích : Tri thức và phát triển
Dữ liệu nguồn trích : 2006/Số 41/XU THẾ, DỰ BÁO, CHIẾN LƯỢC, CHÍNH SÁCH:
Đề mục : 06.51 Kinh tế thế giới. Quan hệ kinh tế thế giới.
Từ khoá : Hội nhập kinh tế Châu Á
Nội dung:
Hội nghị các bộ trưởng kinh tế diễn ra tại Thủ đô Kuala Lumpur của Malaixia, đã mang lại hai sự phát triển đáng chú ý trong một chương trình đã rất bận rộn của châu Á nhằm tiến tới tự do hoá thương mại. Thứ nhất, đó là kế hoạch của các nước thành viên thuộc Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam á (ASEAN) nhằm thúc đẩy sớm hơn thời hạn 5 năm tiến trình hướng tới sự thành lập một thị trường chung ASEAN, tức là vào năm 2015. Tiến triển thứ hai đó là một kiến nghị gây chú ý của Nhật Bản nhằm tạo nên một khối thương mại thống nhất khổng lồ bao gồm 10 nước thành viên ASEAN, cộng với Ôxtrâylia, Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Niu Zilân và Hàn Quốc. Cả hai sự phát triển này tạo ra bằng chứng về quy mô các tham vọng thương mại tự do của các Chính phủ tại châu Á đang ngày càng tăng, nhưng những cọ xát về chính trị và khả năng chồng chéo với các hiệp định thương mại khác đã làm nảy sinh mối nghi ngờ về khả năng thực hiện các kế hoạch này.
Một thời hạn kiên quyết đối với AEC
Trước hết, xem xét kế hoạch cụ thể của ASEAN, trong một tuyên bố chung ngày 22 tháng 8, các quan chức thương mại và kinh tế đến từ 10 nước thành viên ASEAN đã thông báo về việc họ sẽ khuyến nghị lên các Chính phủ của mình để đẩy nhanh mốc thời gian thành lập một Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC). Các kế hoạch về AEC đã được thông qua lần đầu tiên tại một hội nghị các nhà lãnh đạo ASEAN tại Bali, Inđônêxia, cuối năm 2003. Mặc dù đôi khi được mô tả như một sự đáp trả đối với EU, AEC sẽ không có một đồng tiền hay một quốc hội thống nhất, mà sẽ chỉ là một hình thức liên minh hải quan, mặc dù các tiến trình tự do hoá tuân theo khuôn khổ thành lập một Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN (AFTA) vẫn tiếp tục được xúc tiến. Trong khi AFTA liên quan phần lớn đến việc hạ thấp các biểu thuế xuất nhập khẩu, thì AEC được hình dung như một hiệp định rộng hơn nhằm vào việc hợp lý hoá và thống nhất các tiêu chuẩn sản phẩm, các thủ tục hải quan, các quy định về nguồn gốc, các tiêu chuẩn chuyên môn và các yếu tố khác liên quan đến thương mại và đầu tư hàng hoá và dịch vụ trên toàn bộ khu vực.
Tuy nhiên, thực tế là kế hoạch ban đầu về AEC đã đưa ra thời hạn mục tiêu là vào năm 2020, nhấn mạnh đến những phức tạp của việc thực hiện và kiểm soát một thị trường chung ASEAN. Không thể không nhắc đến một thực tế rằng 10 nước thành viên ASEAN bao gồm các nước rất khác nhau, như Singapo và Myanmar chẳng hạn. Các nước này đang ở vào các giai đoạn phát triển kinh tế rất khác nhau và cũng rất khác biệt về cơ cấu kinh tế và chính trị. Ví dụ như, Singapo hầu như không có ngành nông nghiệp và vì vậy sẽ không có gì để mất khi phải chịu chấp nhận các quy định rất tự do về thương mại hàng hoá nông nghiệp. Nhưng nhiều nước khác trong khu vực lại có một ngành nông nghiệp quan trọng cần được bảo hộ, điều này đòi hỏi ASEAN phải rất khôn khéo khi đàm phán về các hiệp định thương mại với các nước hay khu vực khác trong vai trò là một khối thống nhất.
Hơn nữa, do việc giảm biểu thuế quan tuân theo AFTA đang đối mặt với sự chậm trễ và những phức tạp, như sự đối xử đặc biệt đối với một số ngành nhất định tại một số nước cụ thể, vì vậy có thể thấy rằng ASEAN khó có thể làm nên được một sự thay đổi đột ngột, nhằm làm cho thời hạn thực hiện AEC sớm hơn trở thành hiện thực. Việc thống nhất thương mại hàng hoá và dịch vụ đối với 10 nền kinh tế tương đối khác biệt sẽ là điều tương đối khó khăn, nhưng việc thực hiện những thay đổi về cơ cấu và luật pháp kèm theo tại các nền kinh tế kém phát triển hơn, như Lào, Myanmar, Cămphuchia và Việt Nam với một phạm vi nhỏ hơn, được nhiều người coi là một khó khăn chủ yếu.
Chính trị cũng là một vấn đề, đáng chú ý nhất là vấn đề Myanmar. Vị thế được coi là đang nằm ngoài khuôn khổ quốc tế của nước này làm nảy sinh câu hỏi, liệu các nước đã có trừng phạt kinh tế chống lại Myanmar, như Mỹ sẽ đối xử như thế nào đối với những mặt hàng xuất khẩu từ khối AEC. Các nhà chỉ trích quốc tế đối với Myanmar cũng sẽ tiếp tục bị gặp khó khăn bởi truyền thống của ASEAN không can thiệp vào công việc nội bộ của các nước thành viên khác, mặc dù có những dấu hiệu cho thấy sự kiên nhẫn của ASEAN đối với Myanmar đang mất dần và các nước thành viên đang sẵn sàng hơn để chỉ trích chế độ quân sự tại nước này, mặc dù vẫn còn thận trọng. Nhưng việc ASEAN còn thiếu các cơ chế về thể chế để cưỡng bách các nước thành viên phải có hành vi tuân theo những cách thức nhất định vẫn còn là sự thiếu sót cơ bản của tổ chức này. Điều này không chỉ liên quan đến chính trị mà còn làm nảy sinh các câu hỏi về khả năng của ASEAN trong việc điều hành một khối thương mại thống nhất.
Kế hoạch lớn của Nhật Bản: ASEAN+6
Nếu như AEC được coi là quá nhiều tham vọng, nhưng nó vẫn chưa là gì nếu so với kiến nghị vĩ đại của Nhật Bản nhằm tạo nên một Hiệp định Thương mại Tự do Đông á (EAFTA). ý tưởng đã hình thành từ giữa tháng tư, nhưng nó đã trở thành tiêu đề tại hội nghị Bộ trưởng kinh tế ASEAN mới được tổ chức gần đây tại Kuala Lumpur, do đã được nêu ra bởi Bộ trưởng kinh tế, thương mại và công nghiệp Nhật Bản Toshihiro Nikai, khi tham dự hội nghị này.
EAFTA là phương án mới nhất về mô hình hội nhập thương mại “ASEAN+”, nó bao gồm một loạt các FTA đã được thông qua hay đang lên kế hoạch liên kết ASEAN với một hay nhiều nước như Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc. ASEAN và Trung Quốc đã ký kết xong một FTA và một hiệp định “ASEAN+1” nữa cũng đã được ký kết với Hàn Quốc vào tháng 5 (mặc dù Thái Lan bất đồng quan điểm). Nhật Bản cũng đang muốn tìm kiếm các FTA song phương của mình với ASEAN và bằng kiến nghị về EAFTA Nhật Bản cho thấy họ sẽ làm tốt hơn để hoàn thành những gì họ đã bắt đầu, trước khi bước vào một dự án thậm chí còn tham vọng hơn.
Nhật Bản làm như vậy không phải là để đi ngược lại với đường lối đề ra trong chương trình nghị sự chiến lược của mình, cả về khía cạnh ngoại giao kinh tế và mục đích chính trị của nước này trong khu vực. EAFTA sẽ tạo nên một cách có hiệu quả một “ASEAN+6”. Theo Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp Nhật Bản, một thị trường chung như vậy sẽ bao gồm một nửa dân số thế giới và nâng tổng GDP của các nước thành viên của nó lên cao hơn khoảng một phần tư so với mức mà các nước này có thể đạt được bằng các cách khác. Một thị trường chung như vậy cũng sẽ đưa Nhật Bản vào trong một hệ thống các mối quan hệ ngoại giao mạnh mẽ hơn và làm giảm các khả năng xảy ra các tranh chấp chính trị có thể gây nguy hại đến các lợi ích an ninh và ngoại giao của nước này. Đây chính là mối lo ngại ngày càng tăng trước các mối quan hệ ngày càng trở nên xấu hơn của Nhật Bản với các nước láng giềng của mình.
AEFTA còn có thể phản ánh một nỗ lực của Nhật Bản nhằm đối phó với sự nổi lên về kinh tế của Trung Quốc bằng cách đảm bảo rằng các mạng lưới thương mại tự do được phát triển theo các điều kiện của Nhật Bản. Thực chất, Nhật Bản muốn chơi trội hơn FTA của Trung Quốc với ASEAN bằng việc tạo nên một cái gì đó còn to lớn hơn. Điều này cho thấy Nhật Bản đang lo lắng bởi thực tế là Trung Quốc đã nhanh chân hơn trong việc ký kết một hiệp định ASEAN+1.
Bất kể động cơ của Nhật Bản có như thế nào, thì việc thành lập EAFTA vẫn phải đối đầu với một loạt các vấn đề tiềm năng. Mỹ, với hy vọng ký một hiệp định khung về thương mại và đầu tư với ASEAN, có vẻ như không hài lòng khi thấy mình bị gạt ra khỏi một hiệp ước như vậy. Trung Quốc dường như có những e ngại xung quanh việc liên kết với Ấn Độ trong một hiệp định như vậy, một phần là do sự nghi ngờ rằng Nhật Bản muốn sử dụng Ấn Độ như một đối trọng với ảnh hưởng đang tăng lên của Trung Quốc. Trung Quốc còn muốn phản đối việc bao gồm cả Ôxtrâylia và Niu Zilân vì cho rằng các nước này có thể đóng vai trò như các tác nhân của Mỹ. Trong khi đó, các mối quan hệ căng thẳng của Nhật Bản với Trung Quốc và Hàn Quốc cũng có thể gây cản trở việc tiến hành các cuộc thảo luận mang tính xây dựng về hiệp định này.
Sự quá tải FTA
Hơn tất cả, có lẽ vấn đề lớn nhất là ở chỗ kế hoạch của Nhật Bản còn là một sự bổ sung thêm vào một bức tranh vốn đã rất đông đúc, trong đó các FTA đang được kiến nghị hay đã thành sự thật của đủ mọi hạng đều được hy vọng là sẽ hoạt động. Nhiều người sợ rằng nỗi ám ảnh hiện tại của châu Á với các FTA, bao gồm cả các hiệp định song phương giữa từng nước cá thể cũng như các hiệp định khu vực rộng hơn như được nêu ở trên, đang tạo nên một mạng lưới giống như tấm mạng nhện với những cam kết chồng chéo hay mâu thuẫn với nhau. Điều này có khả năng làm xói mòn tiến trình tự do hoá thương mại đa phương và ít nhất cũng một phần làm tiêu tan mục đích của các FTA do làm tăng các chi phí ưng thuận đối với kinh doanh và phủ nhận một số hiệu quả kinh tế nhờ quy mô mà các hiệp định như vậy đang thúc đẩy. Về khía cạnh này, điều đáng chú ý là một số nước thành viên ASEAN tỏ ra lo ngại rằng Nhật Bản có thể muốn thành lập EAFTA theo cách gắn chặt các FTA song phương với các nước cá thể lại với nhau hơn là bằng sự cố gắng tạo nên một hệ thống thương mại thật sự thống nhất.
Nguồn: ViewsWire Asia, 9/2006

 
Trung tâm Thông tin Khoa học Công nghệ Quốc gia