Chính sách và chương trình của một số nước châu Âu đối với các nhà khoa học lưu động |
||
| Dạng tài liệu | : | Bài trích bản tin |
| Ngôn ngữ tài liệu | : | vie |
| Tên nguồn trích | : | Tri thức và phát triển |
| Dữ liệu nguồn trích | : | 2006/Số 39/XU THẾ, DỰ BÁO, CHIẾN LƯỢC, CHÍNH SÁCH: |
| Đề mục | : | 12.41 Tổ chức quản lý khoa học công nghệ. Chính sách khoa học công nghệ |
| Từ khoá | : | Chính sách ; Chương trình ; Châu Âu ; Nhà khoa học lưu động |
| Nội dung: | ||
|
1. Các chính sách cấp quốc gia nhằm khiến châu Âu trở nên hấp dẫn hơn đối với các nhà nghiên cứu
- Áo thành lập một lực lượng đặc nhiệm về nguồn nhân lực “Platt form Humanressourcen” vào tháng 6/2004. Lực lượng này bao gồm các đại diện ở khu vực nhà nước và tư nhân, có vai trò cố vấn chức năng cho các vấn đề mang tính chiến lược. - Hy Lạp: Việc thực hiện chính sách về sự lưu động của các nhà nghiên cứu EU được nêu rõ trong một phạm vi rộng các vấn đề thảo luận giữa Chính phủ, giới hàn lâm và doanh nghiệp ở cấp độ địa phương và quốc gia ở Hy Lạp. Những cuộc thảo luận về các cản trở đối với sự lưu động và Hiến chương/Mã Hạnh kiểm dẫn tới những sự tham khảo trao đổi ở trong nước, đưa các công chức và chuyên gia có các quan điểm và chính sách ban đầu khác nhau từ các Bộ và Cơ quan khác nhau tới gần nhau hơn (Bộ Ngoại giao, Bộ Nội vụ, Trật tự Công cộng, Phát triển/R&D), về các yếu kém cố hữu và nhu cầu cải tổ (cơ cấu, luật pháp, xã hội, nhận thức, vv. nhằm tạo điêu kiện thuận lợi cho sự lưu động về mặt địa lý và giữa các khu vực, cũng như mở cửa cho hệ thống R&D của Hy Lạp nói chung. - Slovenia: nhiều cuộc thảo luận đã được tổ chức với quan điểm phát triển những hướng tiếp cận mới khuyến khích sự lưu động của các nhà nghiên cứu, gồm một cuộc thảo luận bàn tròn về các vấn đề xây dựng một xã hội dựa trên tri thức. - Bỉ: Chính sách giai đoạn 2004-2009 của bộ trưởng khu vực Flemish về khoa học và đổi mới công nghệ đã nhấn mạnh tầm quan trọng của nguồn vốn nhân lực đối với hệ thống R&D. Chính phủ Bỉ đã tuyên bố những biện pháp cụ thể để tăng sự thu hút của vùng Flanders (Bỉ) đối với các nhà nghiên cứu ở nước ngoài, để thu hút các nhà nghiên cứu Bỉ đang làm việc tại nước ngoài quay trở lại tổ quốc và kích thích sự lưu chuyển giữa giới học viện và ngành công nghiệp. Trong Tuyên bố Chính sách Cộng đồng (Community Policy Statement) và Tuyên bố Chính sách địa phương (regional Policy Statement) cho giai đoạn 2004-2009, Chính phủ của Cộng đồng nói tiếng Pháp của Bỉ và Chính phủ của Khu vực Walloon đã lần lượt tuyên bố các dự án cụ thể để khuyến khích sự lưu chuyển về mặt địa phương và liên khu vực của các nhà nghiên cứu. - Cộng hòa Séc: vào tháng 1/2004, Chính phủ Cộng hòa Séc thông qua “Chính sách Phát triển và Nghiên cứu Quốc gia của Cộng hòa Séc giai đoạn 2004-2008” hình thành nên chiến lược của chính sách R&D của nhà nước trên một viễn cảnh gần. Nguồn nhân lực là một trong những chương của chính sách này, đặc biệt nhấn mạnh vào giáo dục, sự lưu chuyển của các nhà nghiên cứu và tính hấp dẫn của sự nghiệp của nhà nghiên cứu. - Hungary: Đạo luật về Nghiên cứu Phát triển và Đổi mới Công nghệ đi vào hiệu lực vào ngày 1/1/2005, cung cấp một khung pháp lý cho R&D và Đổi mới. Một trong những mục tiêu chính của nó là nhằm thúc đẩy và tăng cường sự hợp tác giữa ngành công nghiệp và giới hàn lâm bằng cách khuyến khích việc trao đổi cán bộ và bằng cách tạo điều kiện cho các nhà nghiên cứu có việc làm cố định ở các trường đại học/viện nghiên cứu nhà nước điều hành hoặc làm việc cho các công ty phái sinh. - Balan: vào tháng 12/2004, “Chính sách Khoa học, Công nghệ và Đổi mới Quốc gia tới năm 2020” được Chính phủ thông qua. Chính sách này được soạn thảo để góp phần hình thành một nền tảng nhân lực chung đối với toàn bộ khu vực nghiên cứu nhà nước, nhấn mạnh vào vai trò thiết yếu của việc đào tạo và giáo dục các nhà nghiên cứu và đề xuất về sự cạnh tranh với vai trò là nguyên tắc chung đối với sự nghiệp của các nhà nghiên cứu. - Slovakia: Một số tài liệu và đạo luật quan trọng dành sự chú ý lớn vào sự lưu chuyển và nguồn nhân lực trong nghiên cứu đã được soạn thảo và hiện đang trong giai đoạn thảo luận. Đạo luật mới về “Tổ chức Hỗ trợ cấp nhà nước cho Nghiên cứu và Phát triển” là một trong những tài liệu quan trọng. Đạo luật này sẽ được đệ trình để thương lượng sâu hơn với Chính phủ Cộng hòa Slovak và sẽ có tác động gián tiếp tới sự lưu chuyển của các nhà nghiên cứu. - Đan Mạch: Bản báo cáo về Sự tăng trưởng của Đan Mạch tập trung vào việc nhân lực nước ngoài có kỹ năng cao đóng góp vào sự tăng trưởng của đất nước. Các số liệu thống kê chỉ ra rằng một nhân công nước ngoài có kỹ năng cao tạo ra hai việc làm mới ở Đan Mạch. Bản báo cáo được kỳ vọng là sẽ là một cơ hội cho việc xem xét các sáng kiến tiềm năng, trong đó có cả quan điểm của Chính phủ về việc tăng sự nhận thức về Đan Mạch ở nước ngoài và liên tục xem xét liệu có cần áp dụng các luật lệ Đan Mạch nhằm thu hút thêm nhiều nhân lực có kỹ năng cao từ nước ngoài. - Ireland: Chính phủ đã chứng tỏ cam kết để phát triển một nền kinh tế và xã hội dựa trên tri thức bằng cách tăng đầu tư của nhà nước vào R&D từ 27 triệu euro năm 1997 lên 430 triệu euro vào năm 2003. Trong 4 năm qua, khoản đầu tư này đã tạo điều kiện cho các trường Đại học Ireland xây dựng cơ sở hạ tầng và tăng gấp đôi đầu ra ứng cử viên Tiến sỹ. Đây là một dự án rất thành công, như kết luận của một đánh giá quốc tế gần đây về khoản đầu tư nghiên cứu. Bản báo cáo đã đề xuất sự chú trọng nhiều hơn vào giáo dục và đào tạo các sinh viên sau đại học và tạo điều kiện thuận lợi cho sự nghiệp của họ. Hệ thống giáo dục đại học của Ireland gần đây đã trở thành đối tượng đánh giá của OECD. Trong số 52 đề xuất của nhóm đánh giá OECD, có sự chú trọng mạnh tới sự nghiệp nghiên cứu. Nhóm nghiên cứu đã đề xuất rằng, để phát triển các trường đại học nghiên cứu mang tầm quốc tế thực sự, Ireland phải tăng gấp đôi số lượng ứng cử viên tiến sỹ. Thành lập các khóa đào tạo cấp bằng tốt nghiệp để đào tạo tiễn sỹ sẽ giải quyết được một trong những đề xuất của bản đánh giá OECD. - Sip: từ năm 2004, một biện pháp mới đã được đề ra để khuyến khích sự tham gia hơn nữa của các cơ quan nghiên cứu ở EU, đặc biệt hơn, một khoản bổ sung thêm 10% ngân sách dự kiến được phân bổ cho các dự án bao gồm cả một viện nghiên cứu có trụ sở ở EU với vai trò là một đối tác. Sự tham dự của các nhà nghiên cứu hay các cơ quan nghiên cứu vào các chương trình nghiên cứu quốc gia sẽ được tạo điều kiện thuận lợi hơn với việc công bố các đề xuất hoặc lời kêu gọi bằng tiếng Hylạp và tiếng Anh, với sự khởi đầu của Chương trình Khung Quốc gia vào tháng 11/2005. - Estonia: các trường đại học đã bắt đầu tổ chức các cuộc thi cấp quốc tế cho các vị trí mở (các nhà nghiên cứu, sau tiến sỹ, giáo viên giảng dạy). Các quỹ cơ cấu EU yêu cầu tài trợ bổ sung cho sự lưu động của nhân lực hàn lâm để đưa ra những vị trí dài hạn mới cho các chuyên gia cấp cao. - Slovenia: Chương trình Nhà nghiên cứu Trẻ được thực hiện thành công ở Slovenia từ năm 1985, lần đầu tiên đã được mở rộng ra tới các sinh viên sau đại học nước ngoài, vốn trước đây chỉ dành riêng cho các công dân Slovenia. Ngoài ra, một quỹ của nhà nước mới có tên “Ad Futura” đã bắt đầu quảng cáo những chương trình học bổng, trong đó dành cho các nhà nghiên cứu nước ngoài cơ hội làm việc tại Slovenia. 2. Một số chương trình mới cấp quốc gia để thu hút các nhà nghiên cứu tới châu Âu Một số nước đã thành lập những chương trình mới, phát động những sáng kiến mới hoặc sửa đổi những chương trình đã có nhằm mục đích thu hút các nhà nghiên cứu, bao gồm các công dân ở chính nước mình. - Pháp: đã tiến hành chương trình “Trưởng nhóm Xuất sắc” (chairs of exellence) để thu hút những nhà nghiên cứu trình độ cao từ nước ngoài tới các phòng thí nghiệm của Pháp. Chương trình này nhằm vào các nhà khoa học có kinh nghiệm được công nhận ở tầm quốc tế về sự xuất sắc của họ, những người làm việc trong một dự án khoa học và những nhà khoa học cấp cao đang thành lập nhóm nghiên cứu và thực hiện nghiên cứu cấp cao. Bộ Nghiên cứu quyết định dành khoảng 200 vị trí cho những tiến sỹ trẻ ở các phòng nghiên cứu của Pháp để bổ sung vào số lượng 400 nhà nghiên cứu sau tiến sỹ đã được tuyển dụng năm 2003. Chương trình này cho phép các tiến sỹ trẻ rời khỏi phòng thí nghiệm đào tạo họ ban đầu, để thu được thêm kinh nghiệm trong nghiên cứu bậc cao, và vì vậy chuẩn bị cho việc tuyển dụng vào một công ty sau này của họ. - Đức: tái khởi động Giải thưởng Sofja Kovalevskaja năm 2004, nhằm đưa một số nhà nghiên cứu trẻ tuổi giỏi nhất từ rất nhiều ngành khác nhau tới Đức để tiến hành nghiên cứu ở các cơ quan nghiên cứu của Đức. Tiền thưởng được Bộ Nghiên cứu và Giáo dục Liên bang (BMBF) cung cấp. Những nhà nghiên cứu này có thể dành 4 năm làm việc ở cơ quan mà họ chọn, mà hầu như không bị tác động bởi những thúc ép hành chính, và xây dựng nhóm các nhà nghiên cứu giai đoạn đầu của chính mình. - Ba Lan: Các chương trình tài trợ trong Đạo luật về Tài trợ Nghiên cứu Khoa học, được thông qua vào tháng 10/2004 bao gồm các biện pháp nhằm mục đích chuẩn bị cho các nhà nghiên cứu hợp tác khoa học quốc tế, tăng kỹ năng và năng lực của các nhà nghiên cứu và hỗ trợ cho sự nghiệp của các nhà nghiên cứu trẻ tuổi lỗi lạc. - Tây Ban Nha: Chương trình Juan de la Cierva mới được tiến hành trong quý đầu của năm 2004. Mục tiêu chính của chương trình là nhằm cải thiện năng lực nghiên cứu của các trung tâm R&D, cả ở khu vực tư nhân lẫn khu vực nhà nước, thông qua sự hội nhập của các nhà nghiên cứu, đặc biệt là những người vừa nhận được bằng tiến sỹ. Sự lưu chuyển của các nhà nghiên cứu, chủ yếu là những người từ các nước khác, được tạo điều kiện thuận lợi hơn qua việc chương trình mở cửa đối với tất cả các công dân và không đòi bằng tiến sỹ làm điều kiện để thông qua. Nguồn: Commision staff working document “A Mobility Strategy for the European Research Area” and “Researchers in the ERA: one profession, multiple careers”, 2005 |
||
