Tầm quan trọng của hội nhập kinh tế trong giai đoạn tới |
||
| Dạng tài liệu | : | Bài trích bản tin |
| Ngôn ngữ tài liệu | : | vie |
| Tên nguồn trích | : | Tri thức và phát triển |
| Dữ liệu nguồn trích | : | 2006/Số 38/HỘI NHẬP VÀ PHÁT TRIỂN: |
| Đề mục | : | 06.51 Kinh tế thế giới. Quan hệ kinh tế thế giới. |
| Từ khoá | : | Hội nhập kinh tế ; Hội nhập |
| Tóm tắt tiếng Việt | ||
|
Trong nhiều thách thức và cả thời cơ mới đang mở ra, nhân tố hội nhập kinh tế được xem là một trong những nhân tố quan trọng bậc nhất, có tác động nhiều mặt đến cơ chế quản lý và chính sách phát triển, nhất là trong giai đoạn 5 năm tới 2006 – 2010.
|
||
| Nội dung: | ||
|
Trong những năm đổi mới chúng ta đã tiến hành nhiều quá trình chuyển đổi đồng thời như:
1- Từ cơ chế quản lý theo kế hoạch tập trung, từng bước chuyển sang cơ chế thị trường. Trong nhiều năm trước đổi mới, các hoạt động kinh tế đều làm theo chỉ tiêu được hoạch định một cách chi tiết từ Trung ương. Việc thu mua sản phẩm trong nông nghiệp được lập kế hoạch chi tiết đến từng hợp tác xã, thậm chí từng hộ, với hệ thống giá cả xác định. Chúng ta đã tiến từng bước thông qua cơ chế khoán trong nông nghiệp, kế hoạch ba phần trong công nghiệp và sau đổi mới từ bỏ dần hệ thống chỉ tiêu pháp lệnh và quản lý trực tiếp mức giá với hầu hết sản phẩm. Thậm chí ngay giá xăng dầu, cũng có lẽ đã đến lúc chúng ta sẽ từng bước bãi bỏ việc định giá theo kiểu bao cấp, không thích hợp với quá trình đổi mới và hội nhập. Các đơn vị sản xuất kinh doanh ngày nay được tự chủ hoàn toàn về việc quyết định chiến lược kinh doanh, thậm chí được kinh doanh những gì Nhà nước không cấm. Với hệ thống pháp luật đang được hoàn thiện, kể cả Luật Doanh nghiệp chung và Luật Đầu tư thống nhất sẽ ban hành trong năm tới sẽ làm cho môi trường kinh doanh và đầu tư thêm ổn định và minh bạch hơn. 2- Từ một nền kinh tế chủ yếu là khu vực kinh tế quốc doanh và hợp tác xã, chuyển sang nền kinh tế đa phần, nhiều loại hình sở hữu đan xen, ngày càng trở nên đa dạng, với sự tham gia của các khu vực kinh tế công và tư, trong và ngoài nước. Đến nay, khu vực kinh tế ngoài quốc doanh đã chiếm hơn 60% GDP, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) chiếm 15% GDP. Cũng khu vực FDI này đã sản xuất 43% giá trị sản lượng công nghiệp và 55% giá trị hàng xuất khẩu, đóng góp trực tiếp ngày càng lớn và tạo sự lan tỏa gián tiếp có ý nghĩa tích cực cho toàn bộ nền kinh tế. Khu vực kinh tế dân doanh, nhất là sau khi thi hành Luật Doanh nghiệp mới đã góp phần huy động mạnh mẽ nội lực của nền kinh tế, tạo nhiều việc làm tại chỗ và đáp ứng nhu cầu đa dạng của nhân dân cả nước tại các địa phương. Công nghiệp dân doanh mấy năm liên tiếp đều tăng trưởng với tốc độ trên dưới 20%, đáp ứng tốt nhu cầu cải thiện đời sống đa dạng của nhân dân và góp phần tạo nhiều việc làm trong điều kiện mỗi năm có hơn 1,5 triệu thanh niên bước vào tuổi lao động. 3- Về quan hệ kinh tế đối ngoại: Từ nền kinh tế chủ yếu chỉ quan hệ với Liên Xô và các nước XHCN trước đây, nước ta đã chuyển sang phát triển quan hệ đa dạng với các nước và các tổ chức quốc tế. Đến nay, thương mại hai chiều với các nước đã vượt hơn tổng sản phẩm GDP cả nước. Chất lượng hàng xuất khẩu cũng chuyển biến mạnh mẽ. Từ một nước chủ yếu xuất thô, với mặt hàng chính là nông sản, đến nay nông sản chỉ còn chiếm 20% tổng giá trị xuất khẩu. Tất cả 6 mặt hàng có kim ngạch vượt 1 tỉ USD năm 2004 đều là các sản phẩm chế biến công nghiệp như dầu khí, dệt may, da giầy, thủy sản, điện tử máy tính, đồ gỗ, cho thấy những chuyển biến về chất đã diễn ra. Đến nay, nền kinh tế đã đạt mức tăng trưởng trên 7%/năm, bảo đảm nguồn tích lũy nội bộ nền kinh tế khoảng 30% GDP, góp phần quan trọng làm cho tổng mức đầu tư đạt 36 - 37% GDP là một mức cao. Chúng ta đã dành một phần quan trọng nguồn lực để nâng cấp cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội, nhất là hệ thống đường giao thông (đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường hàng không), viễn thông, hệ thống cấp điện, cấp và thoát nước, vệ sinh môi trường, cảnh quan đô thị được cải thiện rõ rệt. Hệ thống giáo dục, y tế, văn hóa, thể dục thể thao đã có những bước tiến quan trọng. Tuy nhiên, những năm trước mắt cũng có nhiều thách thức quan trọng đang đòi hỏi chúng ta có những nỗ lực to lớn, tận dụng thời cơ, vượt qua thách thức. Có thể nói, trong nhiều thách thức và cả thời cơ mới đang mở ra, nhân tố hội nhập kinh tế được xem là một trong những nhân tố quan trọng bậc nhất, có tác động nhiều mặt đến cơ chế quản lý và chính sách phát triển, nhất là trong giai đoạn 5 năm tới 2006 - 2010. Thật vậy, mặc dù chúng ta đã đạt được nhiều thành tựu rất quan trọng, nhưng nguy cơ tụt hậu về kinh tế so với các nước trong khu vực và thế giới vẫn rất nghiêm trọng. Nếu chỉ tính theo chỉ tiêu GDP bình quân đầu người thì so với Việt Nam hiện nay, Trung Quốc gấp 2, Thái lan gấp 4 và bình quân toàn thế giới gấp 12 lần. Nếu tính đến các thành tựu phát triển xã hội, tuy Chỉ tiêu Phát triển Con người (Human Development Index –HDI) đã đạt cao hơn thứ hạng nếu chỉ xếp theo GDP, nhưng năm 2004, Việt Nam cũng chỉ đứng thứ 112/177 nước, kém Thái Lan và Trung Quốc, xấp xỉ mức của Philippin hay Inđônêxia. Nếu xét thêm về trình độ KH&CN hay tình trạng tham nhũng, hệ thống luật lệ yếu kém thì thứ hạng của nước ta còn kém xa các nước, đứng vào hạng chót trong 5 nhóm nước mà Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) và nhiều tổ chức quốc tế khác đã phân loại. Nói riêng lĩnh vực thương mại dịch vụ, chúng ta còn phát triển thấp, với tốc độ tăng trưởng dưới tốc độ tăng trưởng kinh tế nói chung, do đó tỷ trọng trong nền kinh tế không tăng lên, thậm chí còn giảm sút. Điều này đặc biệt bất lợi khi chúng ta phải tham gia cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Tổng hợp lại, về Năng lực Cạnh tranh Quốc gia (Growth Competitiveness Index- GCI) (được đánh giá theo hàng loạt các chỉ tiêu liên quan đến ba nhóm tiêu chí về ổn định kinh tế vĩ mô, về thể chế công và về KH&CN), thì thứ hạng năm 2004 của Việt Nam là 77/104, cũng vẫn thua xa Trung Quốc (thứ 46/104) hay Thái Lan (thứ 34/104). Điều này cho thấy, con đường phấn đấu theo mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” của chúng ta còn lâu dài và phức tạp biết chừng nào. Nhưng nếu nhìn vào sự chuyển biến của 20 năm qua, nhất là của 15 năm qua thì có thể chúng ta vượt lên khó khăn, thách thức, tận dụng thời cơ mới đang mở ra, cùng tiến bước với nhân loại trong thiên niên kỷ mới. Thời kỳ từ nay đến 2020 (bằng chặng thời gian từ Đại hội VII năm 1991 đến nay), nhất là 5 năm trước mắt 2006 - 2010 sẽ là thời kỳ phấn đấu cũng rất gay go và quyết liệt. Trong một thế giới đang chuyển biến mạnh mẽ, thậm chí cả các nước lớn như Mỹ, Trung Quốc, Nga, EU hay Nhật Bản cũng đang điều chỉnh chính sách trên phạm vi toàn cầu, thì chúng ta vừa phải kiên trì chính sách đổi mới một cách toàn diện, thích ứng với bối cảnh quốc tế mới, vừa phải thực hiện thành công các cam kết đa phương và song phương về hội nhập kinh tế quốc tế. Mặc dù thực hiện những cam kết trong ASEAN (như AFTA, AIA) đã là khó, do trình độ phát triển còn thấp và hệ thống pháp lý chưa hoàn thiện, nhưng thực hiện các Hiệp định song phương với Mỹ, với các nước khác và các Hiệp định đa phương với các tổ chức quốc tế khác, nhất là với WTO, thì lại càng khó hơn. Trong quá trình này, thậm chí sẽ có không ít doanh nghiệp gặp khó khăn, kinh doanh thua lỗ và phá sản, nhưng nhìn chung các doanh nghiệp đã phần nào nhận thức được điều này, thích ứng ngày càng nhanh với thông lệ quốc tế và môi trường quốc tế đang thay đổi để có chiến lược và hành vi kinh doanh hợp lý nhất. Một trong những điều kiện đó là tiến hành đổi mới hệ thống pháp luật theo hướng hài hòa khuôn khổ pháp lý và thủ tục hành chính theo thông lệ quốc tế. Những việc Nhà nước ta đang tiến hành theo một lộ trình rành mạch, có phần tăng tốc, tạo thuận lợi nhất cho các doanh nghiệp và người dân, được sự đồng tình của toàn xã hội và bạn bè quốc tế. Cải cách hành chính, xây dựng bộ máy hành chính mạnh, với đội ngũ cán bộ công chức mẫn cán, tinh thông nghiệp vụ và đặc biệt là trong sạch sẽ tạo nên sự đồng thuận của dư luận xã hội, của các doanh nghiệp và cộng đồng quốc tế. Khi tiến hành đổi mới và phát triển kinh tế, trong giai đoạn mới, chúng ta cũng phải tính đến các chính sách của các đối tác, nhất là các đối tác lớn để có chính sách cho hợp lý và hiệu quả cao nhất cho dân tộc. Sau 30 năm, Việt Nam không chỉ bình thường hóa quan hệ các mặt với Mỹ, mà còn trở thành đối tác thương mại hàng đầu. Trong mối quan hệ với nước láng giềng Trung Hoa ở phương Bắc, chúng ta cũng đã trải qua nhiều bước thăng trầm. Đến nay quan hệ thương mại đã có bước tiến vượt bậc và chỉ riêng quan hệ với Trung Quốc trong Tiểu vùng Mê Kông mở rộng GMS chắc chắn sẽ được đẩy lên một bước mới, nhất là sau Hội nghị cấp cao GMS họp đầu tháng 7/2005 tại Côn Minh. Sự tăng trưởng nhanh chóng vượt bậc của 6 tỉnh biên giới với Trung Quốc (Lai Châu, Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn và Quảng Ninh) trong mấy năm qua, mà Lào Cai là một ví dụ điển hình cho thấy, nếu biết tận dụng thời cơ mới, thì chúng ta cũng có thể thu được những kết quả to lớn dựa trên quan điểm “cùng giành thắng lợi”. Trong chính sách phát triển, chúng ta cũng cần tính đến những diễn biến phức tạp của thế giới. Đó không chỉ là sự phối hợp chống khủng bố mà điều quan trọng, có quan hệ trực tiếp tới thương mại và dịch vụ là sự biến động của thị trường và giá cả. Cuộc khủng hoảng năng lượng mới với giá dầu thô tăng cao đang làm cho các nước phải điều chỉnh cả chính sách phát triển theo hướng bền vững, cân đối cả kinh tế, xã hội, môi trường. Tình trạng ô nhiễm môi trường đi ngược với chuẩn mực ngày càng cao về chất lượng cuộc sống cũng đặt ra những quy chế mới có liên quan đến thương mại thân thiện với môi trường. Chẳng hạn sẽ khó xuất khẩu cá ngừ nếu không phải là cá nuôi theo phương thức hiện đại hay câu cá ngừ đại dương. Chính sách thị trường cũng cần được xem xét trong bối cảnh mới để có sự ứng xử được linh hoạt, mềm dẻo hơn. Trong sự nghiệp đổi mới, vai trò của người Việt Nam ở nước ngoài cũng cần được phát huy một cách toàn diện (cả nguồn trí lực đã được tích lũy bấy lâu, cả kinh nghiệm kinh doanh quốc tế và cả nguồn vốn nhàn rỗi) theo chủ trương đại đoàn kết toàn dân tộc, hướng tới tương lai tốt đẹp của đất nước Việt Nam. Với đất nước hơn 80 triệu dân, chúng ta có một thị trường lớn thứ nhì Đông Nam Á, cùng với thu nhập của người dân đang tăng lên nhanh chóng. Chính sách thương mại đúng đắn là chính sách hướng vào cả thị trường nội địa, cũng như thị trường khu vực và quốc tế đang đi nhanh vào quá trình tự do hóa. Trong những năm trước mắt, Việt Nam hoàn toàn có thể thoát khỏi tình trạng nước kém phát triển, về kinh tế sẽ đạt chuẩn nước có thu nhập trung bình (dù còn là trung bình thấp) khi vào năm 2010 sẽ đạt 1.000 USD/người. Nguồn: Thương Mại, 9/2006 |
||
