Tìm kiếm nâng cao

Số truy cập:

Hàn Quốc hướng tới kinh tế tri thức

  
Dạng tài liệu : Bài trích bản tin
Ngôn ngữ tài liệu : vie
Tên nguồn trích : Tri thức và phát triển
Dữ liệu nguồn trích : 2006/Số 38/XU THẾ, DỰ BÁO, CHIẾN LƯỢC, CHÍNH SÁCH:
Đề mục : 06.59 Kinh tế các nước đang phát triển
Từ khoá : Hàn Quốc Kinh tế tri thức Hệ thống đổi mới
Nội dung:
Kinh tế tri thức (KTTT) đặt ra cho Hệ thống Đổi mới Quốc gia (NIS) những thách thức mới, đòi hỏi Hàn Quốc phải tiến hành một số cải cách cơ bản về cơ cấu. Bên cạnh một số cải cách có liên quan trực tiếp đến những đối tượng và hoạt động đặc thù trong hoạt động đổi mới, còn có một số cải cách có liên quan KTTT. Trong KTTT, NIS đóng vai trò là nơi sản xuất tri thức hàng đầu, tạo khả năng đem lại tăng trưởng kinh tế, tuy nhiên cấu hình và sự kết tụ của hệ thống đó lại do bối cảnh KT-XH chi phối. Một số cải cách này đã được Hàn Quốc tiến hành, đặc biệt là sau cuộc khủng hoảng tài chính-tiền tệ năm 1997. Các cuộc cải cách này đã đem lại một số kết quả tích cực, song bên cạnh đó cần phải có những cân nhắc lại cho thấu đáo hơn.
Hiện tại, NIS ở Hàn Quốc nhìn chung hoạt động tương đối tốt. NIS đã thành công trong việc tích luỹ các năng lực nghiên cứu và thu được một số thành tựu nổi bật. Vấn đề đặt ra hiện nay là làm thế nào để hệ thống này hoạt động hiệu quả cao hơn, đặc biệt là phải tăng cường các mối liên kết giữa các tổ chức và các đối tượng tham gia ở trong NIS. Với vai trò là một chủ thể sản xuất và phổ biến tri thức/công nghệ để phục vụ công cuộc phát triển kinh tế, nên hiệu quả của NIS phụ thuộc nhiều vào các mối liên kết và phân chia lao động giữa các đối tượng tham gia ở trong NIS. Dưới đây là những lĩnh vực cần thay đổi để đáp ứng với KTTT:
1. Thay đổi chính sách KH&CN và đổi mới
Sự thay đổi bản chất của các quá trình đổi mới, kể cả các mối liên kết của chúng với những hoạt động nghiên cứu cơ bản đòi hỏi phải có những chính sách KH&CN và đổi mới thích hợp.
a) Cần có các thị trường cạnh tranh để kích thích đổi mới và thu được lợi ích từ tri thức tích luỹ được cả ở cấp công ty lẫn từng cá nhân. Đồng thời, các doanh nghiệp không đơn thuần là “những thuật toán” để tối ưu hoá các chức năng sản xuất, mà là những tổ chức học hỏi, các hiệu quả của chúng phụ thuộc vào nhiều điều kiện về thể chế, kết cấu hạ tầng và văn hoá đặc thù của mỗi quốc gia. Do đó, ngoài việc khắc phục các “thất bại” của cơ chế thị trường (bằng cách cung cấp hàng hoá công, quyền sở hữu trí tuệ và trợ cấp cho hoạt động nghiên cứu và phát triển - R&D), Chính phủ phải có trách nhiệm cải thiện khung thể chế cho các tương tác tri thức trong số các doanh nghiệp và giữa những tổ chức mang tính thị trường với các tổ chức phi thị trường. Đặc biệt, phần lớn các nước trong OECD đều đang áp dụng chính sách và các thể chế mới để kích thích sự phổ biến các kết quả R&D ra toàn ngành kinh tế.
b) Một đặc điểm then chốt của KTTT là các cụm hoạt động liên quan đến công nghệ đóng vai trò là một công cụ quan trọng để tăng cường hồi vốn đầu tư R&D của cả khu vực Chính phủ lẫn tư nhân. Bởi vậy phần lớn các nước trong Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) đã thay đổi chính sách KH&CN và đổi mới từ chỗ thúc đẩy phát triển ngành sang thúc đẩy cụm.
c) Kinh nghiệm thành công của các nước OECD cho thấy muốn tăng được hiệu quả của các chính sách KH&CN và đổi mới cần phải có các cơ chế phối hợp và đánh giá.
2. Cải thiện các điều kiện khung
Hoàn cảnh mới của chính sách KH&CN và đổi mới có hàm ý trực tiếp đối với nền kinh tế Hàn Quốc, cụ thể, nó yêu cầu phải cải thiện các điều kiện khung cho chính sách KH&CN và đổi mới. Có nhu cầu tương ứng phải tăng hiệu quả các biện pháp thông thường để thực hiện chính sách. Các biện pháp thông thường được Chính phủ sử dụng để ảnh hưởng tới các hệ thống R&D quốc gia là lựa chọn các lĩnh vực nghiên cứu, có chính sách ưu tiên việc phân bổ kinh phí và đánh giá bản thân chính sách. Có rất nhiều cơ hội để cải thiện hiệu quả chính sách ở tất cả các biện pháp này.
* Cải thiện hơn nữa các điều kiện khung để đổi mới
Chính sách KH&CN và đổi mới cần phải liên kết chặt chẽ hơn với cách chính sách khác của Chính phủ. Hai lĩnh vực chính sách được quan tâm trực tiếp là: Phát triển nguồn nhân lực KH&CN và cấp vốn cho đổi mới. Đối với lĩnh vực đầu, điều quan trọng là phải có được chính sách giáo dục để trường đại học thích ứng nhanh chóng với các điều kiện thay đổi về KT-XH. Các chính sách tăng cường mức độ linh hoạt cho công nhân cũng đóng vai trò quan trọng trong vấn đề thuyên chuyển nguồn nhân lực để phục vụ cho đổi mới. Liên quan đến điều này, việc tạo ra thị trường tài chính lành mạnh ngày càng trở nên quan trọng để thúc đẩy các doanh nghiệp công nghệ mới hoặc sản sinh ra nguồn vốn mạo hiểm. Tất cả các chính sách này và các chính sách khác, chẳng hạn như chính sách cạnh tranh, thông thường vẫn không nằm trong phạm vi chú trọng chính của chính sách KH&CN và đổi mới, tiến tới sẽ phải có ảnh hưởng nhiều như các chính sách KH&CN và đổi mới. Bởi vậy, nhất thiết cần phải có sự hợp tác chặt chẽ hơn giữa các Bộ chịu trách nhiệm để giúp nâng cao hiệu quả của chính sách KH&CN và đổi mới.
Ngoài ra, các cuộc cải cách hiện nay liên quan đến công tác quản trị doanh nghiệp, chế độ cạnh tranh và mở cửa cho đầu tư nước ngoài, đều sẽ có tác động tích cực tới năng lực đổi mới và khuyến khích sự đổi mới. Chúng cần phải được theo đuổi và thực hiện cả cho các lĩnh vực khác, chẳng hạn như các chính sách thuế và thị trường lao động.
* Hỗ trợ để tăng cường nghiên cứu cơ bản và doanh nghiệp vừa và nhỏ ( SME)
Tăng kinh phí R&D và tăng cường vai trò tích cực của Chính phủ là những điều kiện tiên quyết để đáp ứng các thách thức đặt ra của KTTT. Có 2 việc đáng được quan tâm đặc biệt. Một là, Chính phủ cần phải chọn ra các lĩnh vực cần đến sự hỗ trợ cấp bách. Hai lĩnh vực nằm trong danh mục này là: Nâng cấp cơ sở tri thức nội sinh (nghĩa là cần tăng cường nghiên cứu cơ bản ở các trường đại học) và phát triển cơ sở công nghệ của SME. Chính phủ nên tiến hành một cuộc khảo sát phân tích toàn diện về những lĩnh vực ưu tiên hỗ trợ. Hai là, Chính phủ nên đề ra tiêu chuẩn rõ ràng để đánh giá các chính sách của mình. Trong số các tiêu chuẩn này, cần nêu bật đến tính hiệu quả và tăng cường hệ thống.
* Cải thiện hệ thống các biện pháp khuyến khích R&D
Hệ thống này hiệu quả phức tạp và cần được hợp lý hoá, đặc biệt là thông qua sự phối hợp tốt hơn giữa những cơ quan cấp vốn và đánh giá. Tối thiểu, các biện pháp khuyến khích của Chính phủ phải trả lời được những câu hỏi sau:
- Chúng có làm tăng được chi tiêu R&D của tư nhân vượt quá mức mà họ thực hiện khi không có sự hỗ trợ của các biện pháp này không?
- Chúng có ưu việt hơn so với các công cụ chính sách khác để cùng đạt được mục tiêu đề ra không?
* Đánh giá chính sách
Hiện tại, các cơ chế để đánh giá hiệu quả chính sách còn quá yếu. Thông thường, các biện pháp mới được đưa ra áp dụng đều không có sự đánh giá trước đó về tính hợp lý và tác động triển vọng tới hiệu quả. Cơ chế theo dõi cần phải được tăng cường.
* Phối hợp chính sách
Các chính sách của Chính phủ, đặc biệt là các Chương trình R&D cần phải được phối hợp chặt chẽ.
* Tôn trọng và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ
- Hợp lý hoá cơ cấu hành chính,
- Tăng trình độ chuyên môn của các cán bộ chuyên trách việc cấp bằng sáng chế,
- Tăng dịch vụ thông tin về quyền sở hữu trí tuệ.
3. Đẩy mạnh cơ sở tri thức nội sinh
* Thúc đẩy việc hình thành các Trung tâm xuất xắc (Centers of Excellence)
Dựa vào sự xem xét minh bạch (có sự tham gia của các chuyên gia quốc tế), một số ít trường đại học nên được chuyển hoá thành các trường đại học kiểu Anglo-Saxon, với sự chú trọng đặc biệt đến hoạt động nghiên cứu. KAIST và POSTECH đã cho thấy là có khả năng đạt được điều này. Hai trường hợp này đã chứng tỏ rằng với một hệ thống quản lý khách quan, kinh phí Chính phủ đảm bảo và quyền tự quản, các trường đại học Hàn Quốc có thể trở thành các tổ chức định hướng nghiên cứu có sức cạnh tranh.
* Các chức năng bổ sung của trường đại học cho NIS
Đóng góp trực tiếp nhất của các trường đại học là cung cấp các sinh viên tốt nghiệp đủ phẩm chất cho khu vực công nghiệp. Có thể tham khảo điều này ở hệ thống các trường kỹ thuật của một số nước châu Âu, chẳng hạn như hệ thống Fachhoch-schuler ở Áo. Các hệ thống giáo dục thành công nhất của các nước trong OECD cho thấy công tác nghiên cứu và đào tạo của trường đại học là cốt lõi để giúp cho các cụm đổi mới hình thành và lớn mạnh. Ví dụ, Dublin City ở Ailen đã liên tục thay đổi chương trình môn học để đáp ứng các nhu cầu kinh doanh. Một số trường đại học ở Hàn Quốc cũng đang nhanh chóng chuyển sang hướng này, ví dụ, trường đại học Taegu-Hyosung Catholic (TCU). Để đáp ứng các yêu cầu KT-XH đã thay đổi, TCU, một trường đại học đa ngành, định hướng vào giáo dục đã có một số thay đổi trong hệ thống quản lý. TCU đã dành ưu tiên hàng đầu cho nhiệm vụ nâng cấp chất lượng nghiên cứu của các Giáo sư. Một trong những bước thực hiện nhiệm vụ này là TCU cho ngừng xuất bản các tạp chí của trường và áp dụng hệ thống trả lương theo từng năm, dựa vào việc xem xét các sản phẩm nghiên cứu. Ngoài ra, TCU cho phép các sinh viên có thể lựa chọn việc học tập theo nhu cầu của mình. Kết quả TCU đã rất thành công và được lựa chọn là trường đại học xuất sắc.
* Chính sách khoa học để nâng cấp cơ sở tri thức
Chính sách khoa học của phần lớn các nước OECD đang thay đổi để chú trọng hơn đến khả năng ứng dụng cho công nghệ và công nghiệp từ các sản phẩm nghiên cứu. Sự thay đổi này đã giúp cơ sở khoa học trong nước tiến bộ rất nhiều nhờ năng lực nghiên cứu cao hoặc của các trường đại học (Mỹ và Anh), hoặc của các trung tâm nghiên cứu quốc gia (Pháp). Hàn Quốc cũng nên có những phát triển theo hướng đi này
Nguồn: Korean Herald, 11/2005

 
Trung tâm Thông tin Khoa học Công nghệ Quốc gia