“Thúc đẩy công cuộc phát triển ở nông thôn Việt Nam” |
||
| Dạng tài liệu | : | Bài trích bản tin |
| Ngôn ngữ tài liệu | : | vie |
| Tên nguồn trích | : | Tri thức và phát triển |
| Dữ liệu nguồn trích | : | 2006/Số 34/TIN NGẮN: |
| Đề mục | : | 68.01 Các vấn đề chung |
| Từ khoá | : | Nông thôn Việt Nam ; Nông thôn ; Việt Nam |
| Nội dung: | ||
|
Mới đây, Ngân hàng Thế giới (WB) công bố một báo cáo nghiên cứu dày 281 trang mang tựa đề “Thúc đẩy công cuộc phát triển ở nông thôn Việt Nam”, khuyến cáo về công cuộc phát triển nông thôn Việt Nam hậu WTO. Không chỉ WB mà cả ADB, OXFAM cũng đã đưa ra nhiều khuyến cáo đối với nông nghiệp và sự phát triển nông thôn Việt Nam khi gia nhập WTO.
Để có thể tự tin trên một sân chơi bình đẳng như WTO, các chuyên gia kinh tế của ADB đã đưa ra khuyến cáo: Việt Nam phải biết tìm ra sản phẩm thế mạnh của mình và cũng phải nhận ra được những sản phẩm nào có sức cạnh tranh thấp. Chẳng hạn, với mặt hàng gạo - một loại nông sản hàng hoá chủ lực của Việt Nam; trong khi nông dân Thái Lan trồng lúa mùa địa phương tuy năng suất chỉ đạt 2,5 tấn/ha, nhưng do tận dụng điều kiện tự nhiên nên không tốn chi phí bơm nước và thuốc sâu... còn lúa cao sản Việt Nam tuy đạt 4-5 tấn/ha, nhưng do chi phí đầu vào quá cao nên tính ra giá thành sản phẩm tương đương. Với chất lượng cao hơn hẳn, gạo Thái Lan vẫn bán được giá hơn gạo Việt Nam. Như vậy, trên cùng một diện tích, người Thái vẫn thu được lợi nhuận cao hơn và gạo bán cũng dễ hơn. Không phủ nhận hiệu quả của những biện pháp hỗ trợ mang tính tình thế của Chính phủ để giảm nhẹ tác động bất lợi cho nông dân (như quy định giá sàn thu mua lúa gạo...) nhưng cả WB, ADB và OXFAM đều thống nhất rằng những can thiệp đó thường mang lại ít hiệu quả trong ngành nông nghiệp, đặc biệt trong điều kiện an sinh xã hội chưa được tổ chức thật tốt như ở Việt Nam hiện nay. Trong thực tế Việt Nam, những chương trình không xuất phát từ ngành nông nghiệp (như Chương trình xoá đói giảm nghèo) lại có tác dụng trực tiếp tạo cơ hội cho người dân quay về với những loại cây trồng lợi thế. Như vậy, vấn đề đặt ra không chỉ là Nhà nước có cơ chế phù hợp trong khuôn khổ WTO để thúc đẩy chăn nuôi tập trung phát triển, mà còn tổ chức cho người nông dân biết liên kết trong sản xuất để tạo nguồn hàng hóa dồi dào. Nguồn: DDDN, 8/2006 |
||
