Malaixia phát triển ngành công nghiệp điện tử như thế nào? (tiếp theo) |
||
| Dạng tài liệu | : | Bài trích bản tin |
| Ngôn ngữ tài liệu | : | vie |
| Tên nguồn trích | : | Tri thức và phát triển |
| Dữ liệu nguồn trích | : | 2006/Số 34/XU THẾ, DỰ BÁO, CHIẾN LƯỢC, CHÍNH SÁCH: |
| Phụ chú tài liệu | : | Tiếp theo của Phần được đăng trong Tri thức & Phát triển số 30/2006 |
| Đề mục | : | 06.75 Quản lý kinh tế |
| Từ khoá | : | Malaixia ; Công nghiệp điện tử ; Điện tử |
| Tóm tắt tiếng Việt | ||
|
Mới đây, Bộ Bưu chính Viễn thông và Hiệp hội Doanh nghiệp Điện tử Việt Nam (VN) đã tổ chức Hội thảo “Đánh giá thực trạng công nghiệp điện tử VN và phương hướng phát triển đến 2010, tầm nhìn đến 2020”
Với kỳ vọng trở thành ngành công nghiệp mũi nhọn, Nhà nước đã liên tục bảo hộ ngành công nghiệp quan trọng này của VN trong suốt gần 30 năm qua. Thế nhưng, đến nay nhìn lại, thực trạng của ngành điện tử nước ta gần như khó có gì để hy vọng cho tương lai. VN hiện được xem là nước có thâm niên lắp ráp sản phẩm điện tử thuộc nhóm lâu nhất thế giới. Thông thường, các nước chỉ mất từ 5 đến 10 năm cho giai đoạn lắp ráp, sau đó họ đi vào sản xuất linh kiện, thiết kế sản phẩm. Còn VN đã qua gần 30 năm lắp ráp, nhưng vẫn chưa có dấu hiệu gì chứng tỏ sắp vượt qua giai đoạn này.
Hy vọng, kinh nghiệm của Malaixia được giới thiệu dưới đây có thể hữu ích cho VN trong việc phát triển ngành công nghiệp điện tử của mình.
|
||
| Nội dung: | ||
|
Đầu tư của Nhật Bản vào Malaixia
Các công ty sau khi hình thành các cụm sản xuất này, thường phụ thuộc lẫn nhau và thu được lợi thế nhờ tập trung và chuyên môn hóa. Tuy nhiên, các cơ sở sản xuất này phần lớn đều thuộc các doanh nghiệp của họ (các doanh nghiệp Nhật) và các cơ sở này rất ít liên hệ hợp tác với các công ty bản địa. Chính vì vậy, điều này tạo ra rất ít sự chuyển giao công nghệ, giữa các công ty nước ngoài và các công ty bản địa. Điều này không phải do các công ty của Nhật bản mong muốn hạn chế chuyển giao công nghệ mà là do ảnh hưởng của chính sách ưu đãi các doanh nghiệp bản địa (Bumiputra) của chính phủ Malaixia. Lý do lớn nhất cho sự thiếu phối kết hợp sản xuất kinh doanh với khu vực các doanh nghiệp nước ngoài và các doanh nghiệp trong nước là sự thiếu vắng những doanh nhân có tham vọng trong số người Mã lai bản địa, muốn tham gia hoạt động sản xuất trong những ngành dựa trên công nghệ cao. Những ưu đãi dành cho các công ty Nhật Công nghiệp điện và điện tử của Malaixia phụ thuộc rất lớn vào các hoạt động của các công ty Nhật. Mặc dầu dưới thời của Thủ tướng Mahathir, Chính phủ đã có rất nhiều cải cách về khung chính sách, pháp luật, công nghiệp phụ trợ, nguồn nhân lực và các cải cách khác, nhưng môi trường đầu tư vẫn còn chưa đủ điều kiện thuận lợi. Các vấn đề liên quan đến sự yếu kém/thiếu phát triển của các doanh nghiệp trong nước của người bản xứ và tình trạng thiếu nguồn nhân lực, đặc biệt là các vấn đề này dường như chưa được giải quyết sớm. Chúng đang trở thành trở ngại cho sự phát triển trong tương lai của lĩnh vực sản xuất của Malaixia. Khung chính sách pháp luật Một mặt, Luật Đầu tư (sửa đổi) vào năm 2003 đã tháo dỡ các quy định về hạn chế sự tham gia góp vốn của các công ty nước ngoài trong các ngành công nghiệp sản xuất mà trước đây tạm thời được gỡ bỏ trong cuộc khủng hoảng kinh tế trong khu vực. Cơ chế khuyến khích cũng có nhiều cải thiện hơn thông qua các ưu đãi cho các nhà đầu tư tiên phong trong lĩnh vực R&D và tham gia vào phân phối buôn bán toàn cầu và các ưu đãi khác. Mặt khác, người ta cũng nghi ngờ về sự liên tục và nhất quán của chính sách của Chính phủ khi mà nhiều quan chức Chính phủ không có khả năng bắt kịp với sự thay đổi đến chóng mặt của công nghệ. Ví dụ, biểu thuế cho các linh kiện và vật tư sử dụng trong ngành điện và điện tử thường được áp đặt tùy tiện bởi các quan chức quản lý liên quan. Một số các quy trình hợp pháp như đăng ký đất đai, quan hệ với công đoàn và tố tụng thường tốn rất nhiều thời gian. Rất nhiều vấn đề cũng được báo cáo như vấn đề về quan liêu cửa quyền của các quan chức Chính phủ , nhũng nhiễu và tình trạng mập mờ không rõ ràng của các quy trình nộp đơn xét duyệt. Thiếu sự phát triển của công nghiệp phụ trợ Mặc dầu Chính phủ nỗ lực phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) thông qua Tổng Công ty Phát triển Công nghiệp vừa và nhỏ (SMIDEC), Malaixia hiện vẫn chỉ có một số ít các công ty trong nước có thể cung cấp phụ tùng linh kiện cho các công ty nước ngoài, cũng như xuất khẩu thông qua các nỗ lực marketing độc lập. Chương trình phát triển Vendor (Vendor Development Program ) tập trung vào phát triển ngành công nghiệp phụ trợ bằng cách hỗ trợ các công ty trong nước hợp tác với tập đoàn Matshushita và các công ty nước ngoài khác là một trong những chính sách quan trọng phục vụ cho mục đích kể trên, nhưng mục tiêu ban đầu đặt ra vẫn chưa đạt được như mong muốn. Chương trình phát triển Vendor là một chương trình được thiết lập bởi Chính phủ Malaixia vào giữa thập kỷ 90 để thúc đẩy các công ty có vốn đầu tư của người Mã lai quan hệ hợp tác với các công ty của Nhật. Trong chương trình này, các công ty lớn của nước ngoài liên kết với một ngân hàng thương mại và các công ty cung cấp linh kiện phụ tùng. Các công ty nước ngoài này được yêu cầu tạo ra một hoặc hai đối tác là các công ty địa phương hàng năm. Chương trình này tìm kiếm các nhà cung cấp trong nước có khả năng cạnh tranh để liên kết với các công ty nước ngoài trong số các công ty chế tạo các sản phẩm chất dẻo trong vùng Shah Alam và trong số các công ty cung cấp phụ tùng và các nhà sản xuất sản phẩm liên quan trong khu vực Penang. Các nhà cung cấp trong trong nước được chọn lựa này là những công ty đang nhận các kỹ sư , kỹ thuật viên Nhật làm việc vào khoảng thời gian cố định và là những doanh nghiệp đang thành công trong việc mở rộng hệ thống khách hàng. Các nhà cung cấp mà chỉ phụ thuộc vào sự giúp đỡ của các công ty nước ngoài nói chung không được chọn trong Dự án này. Ngược lại với tình hình trên, các công ty có vốn của người Hoa tuy không được sợ hỗ trợ của Dự án nhưng đã phát triển hệ thống khách hàng một cách mạnh mẽ và liên kết hợp tác rất gần gũi với các doanh nghiệp nước ngoài ở mức độ hơn nhiều. Việc phát triển ngành công nghiệp phụ trợ là hết sức quan trọng. Nó là một nhân tố chính trong việc thúc đẩy sức cạnh tranh và để hạn chế các công ty điện và điện tử Nhật bản chuyển nhà máy sang nước khác. Bản thân các công ty nước ngoài cũng đang nỗ lực rất lớn để hỗ trợ các doanh nghiệp trong nước. Tuy nhiên, đối mặt với cạnh tranh toàn cầu, các công ty này không có đủ thời gian và nguồn nhân lực để hỗ trợ trên cơ sở từng doanh nghiệp trong nước một. Mặc dù Chính phủ Malaixia, Chính phủ Nhật và các công ty Nhật đã có hàng loạt những nỗ lực chung để phát triển ngành công nghiệp phụ trợ, bao gồm cả Chương trình phát triển Vendor như đã đề cập ở trên, họ cũng không thành công một phần do ảnh hưởng của chính sách ưu đãi các doanh nghiệp nội địa (Bumaputra) của Chính phủ. Cuối năm 2003, Phòng Thương mại và Công nghiệp Nhật tại Malaixia (JACTIM) đã có một bản đề xuất mới gửi tới Thủ tướng Mahathir, đề cập đến tầm quan trọng của sự phát triển ngành công nghiệp phụ trợ. Tháng 7/2003, Phòng Thương mại đã tổ chức buổi Hội nghị chung với sự tham gia của MIDA, SUMIDEC và các quan chức Chính phủ cũng như các doanh nghiệp lớn của Nhật. Hội nghị cũng đưa ra kết luận tới Chính phủ Malaixia rằng việc phát triển công nghiệp phụ trợ là hết sức quan trọng đối với Malaixia, nếu muốn tồn tại trong môi trường biến động và cạnh tranh toàn cầu, đặc biệt là từ Trung Quốc và sự thực thi AFTA, và cũng để duy trì sức cạnh tranh của các ngành công nghiệp sản xuất của Malaixia. Hội nghị này cũng đề xuất một chương trình với mục đích thúc đẩy hơn nữa sự lớn mạnh của công nghiệp phụ trợ, ví dụ tăng cường trình độ chuyên môn cho công nhân trong tạo khuôn, chế tạo nhựa, dập... bằng sự hỗ trợ từ hệ thống bảo trợ của SUMIDEC. Bảo đảm nguồn nhân lực Trong quá trình lắp ráp các linh kiện thiết bị điện và điện tử , các công ty Nhật luôn cần và kỳ vọng vào nguồn cung cấp nhân lực chất lượng ổn định và dồi dào. Tuy nhiên, dân số của Malaixia chỉ có khoảng 24 triệu người và lực lượng lao động khoảng 11 triệu. Chính vì vậy, Malaixia phải nhờ cậy vào khoảng khoảng 3 triệu nhân công nước ngoài. Khi Malaixia hồi phục sau cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1997, tình trạng thiếu lao động lại một lần nữa là một vấn đề đối với nền kinh tế Malaixia. Các nhà sản xuất Nhật Bản tại Malaixia đã tuyển dụng các công nhân nữ nước ngoài với hợp đồng 2 năm. Có khoảng 3 triệu lao động như vậy được tuyển dụng, trong số đó hầu hết là lao động từ Inđônêxia. Đối với nguồn nhân công có tay nghề cao, các công ty rất khó tìm kiếm các kỹ sư chuyên ngành, ví dụ như chế tạo khuôn đúc. Các công ty Nhật thường ký hợp đồng thuê các kỹ sư tay nghề cao trong các ngành nghề như vậy từ các nước Ấn Độ, Bangladesh. Như là một phần của Chương trình Hành lang siêu xa lộ thông tin, trường Đại học Truyền thông đa phương tiện (Multi Media) đã được thành lập với mục đích đào tạo CNTT và đa phương tiện cho các sinh viên, kể cả các sinh viên không thuộc gốc Mã lai. Nhiều doanh nghiệp hy vọng trường đại học này sẽ đào tạo và cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao trong ngành CNTT. Trên thực tế, trường Đại học này không những đào tạo các chuyên gia CNTT, mà còn đào tạo các kỹ sư kỹ thuật tay nghề cao cho ngành điện và điện tử. Hiện tại, trường tuyển sinh khoảng hơn 7.000 sinh viên cho mỗi khu học xá, trong số 2 khu học xá của nhà trường. Bởi vì quy chế tuyển sinh của trường Đại học này không phải tuân theo chính sách ưu tiên người Mã Lai (Bumiputra), nên chất lượng sinh viên ra trường tương đối cao. Tuy nhiên, rất nhiều sinh viên sau khi tốt nghiệp đã làm cho các công ty phương Tây như Motorola, Intel và rất ít làm việc cho các công ty Nhật. Tại cuộc họp Thượng đỉnh giữa Malaixia và Nhật, hai nước đã đồng ý thành lập Đại học Kỹ thuật Quốc tế Nhật-Malaixia. Tổ chức Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA) và Ngân hàng Đầu tư Hải ngoại (JBIC) đã thực hiện nghiên cứu tiền khả thi cho Dự án này. Những công việc cần thiết cho việc hoàn thành Dự án này được triển khai trong vòng 3 năm liên tục. Các công ty Nhật mong muốn trường Đại học này có khung chương trình học về các sản phẩm chế tạo, vì đây chính là nguồn cạnh tranh cho các công ty này. Dự án này cũng kêu gọi thành lập một conxoocxiom bao gồm 17 trường Đại học Nhật để hỗ trợ cho trường Đại học mới này. Dự án này cũng mong muốn các Giáo sư, Giảng viên của các trường Đại học Nhật sẽ giảng dậy bằng tiếng Nhật. Nhưng cũng có lo ngại rằng, việc giảng dậy bằng tiếng Nhật sẽ là một trở ngại cho việc tuyển sinh được các sinh viên giỏi ở trong nước và quốc tế. Nâng cao năng lực R&D và nguồn nhân lực cho ngành điện và điện tử Với một lượng lớn các linh kiện nhập từ các nước khác trong khu vực ASEAN (các linh kiện nhập khẩu chiếm hơn 90%) và sự thiếu hụt nguồn nhân lực tay nghề cao trong lĩnh vực công nghệ Analog (tương tự) ở Nhật khi nền kinh tế chuyển nhanh sang công nghệ số. Các nhà lắp ráp Nhật tại Malaixia, bao gồm Matshushita và Sony đã thúc đẩy năng lực tự thiết kế của các kỹ sư Malaixia cho các thiết bị sử dụng công nghệ Analog như tivi sử dụng đèn catod để cạnh tranh với Trung Quốc. Các công ty lớn đã thiết lập các trung tâm nghiên cứu triển khai với hàng trăm nhân viên địa phương đã làm cho Malaixia trở thành trung tâm toàn cầu cho việc phát triển công nghệ analog. Họ cũng không ngần ngại cử các chuyên gia Nhật sang Malaixia công tác trong thời gian ngắn để tăng hiệu quả nghiên cứu và phát triển cho các trung tâm này. Nguồn: UNCTAD.org, 1/2006 |
||
