Tìm kiếm nâng cao

Số truy cập:
Home » Cơ sở dữ liệu toàn văn » Ấn phẩm điện tử » Tri thức và phát triển » 2006 » Số 31 » XU THẾ, DỰ BÁO, CHIẾN LƯỢC, CHÍNH SÁCH: » Ấn Độ đối với vấn đề thu hút nhân công có tay nghề

Ấn Độ đối với vấn đề thu hút nhân công có tay nghề

  
Dạng tài liệu : Bài trích bản tin
Ngôn ngữ tài liệu : vie
Tên nguồn trích : Tri thức và phát triển
Dữ liệu nguồn trích : 2006/Số 31/XU THẾ, DỰ BÁO, CHIẾN LƯỢC, CHÍNH SÁCH:
Đề mục : 12.41 Tổ chức quản lý khoa học công nghệ. Chính sách khoa học công nghệ
Từ khoá : Ấn Độ Nhân công Nguồn nhân lực
Tóm tắt tiếng Việt
Sự quan tâm của Chính phủ Ấn Độ dành cho người di cư có trình độ rất khác nhau theo từng khu vực và theo thời gian, phản ánh những sự cân nhắc về vấn đề chảy máu chất xám lẫn phục hồi chất xám. Sự tiếp cận chuyên biệt theo khu vực này được thể hiện rõ ở các lĩnh vực công nghệ thông tin và y tế.
Nội dung:
Khu vực công nghệ thông tin (IT)
Nhận thức được tầm quan trọng của khu vực IT trong việc tạo ra công ăn việc làm và thu nhập từ xuất khẩu và vai trò quan trọng của việc lưu chuyển xuyên biên giới các chuyên gia IT, Chính phủ Ấn Độ đã nỗ lực tạo điều kiện thuận lợi cho việc di cư tạm thời của nhân công IT Ấn Độ tới những thị trường lớn trên thế giới. Việc di cư tự do của các nhân công tri thức trong khu vực này cũng là một trong những minh chứng cho những ưu đãi mà nước này dành cho phân đoạn xuất khẩu phần mềm thông qua các khoản miễn thuế, thành lập các vùng chế biến xuất khẩu và các công viên công nghệ phần mềm với giấy phép một cửa duy nhất để thông qua đầu tư. Với việc thành lập Lực lượng Đặc nhiệm IT Quốc gia và việc thành lập gần đây Bộ Công nghệ Thông tin, mức tăng trưởng của khu vực IT và xuất khẩu phần mềm đã được đẩy nhanh, bao gồm cả những dịch vụ khách hàng và phản ánh sự hỗ trợ chung cho xuất khẩu dựa trên nhân lực của Chính phủ trong khu vực này. Chính phủ cũng rất tích cực hỗ trợ cho công tác vận động hành lang để tạo ra nhiều cơ hội tiếp cận các thị trường lớn hơn cho các chuyên gia phần mềm của Ấn Độ thông qua các cuộc đàm phán song phương với các nước quan trọng như Mỹ và ở các cuộc đàm phán đa phương như các cuộc thảo luận mô hình 4 hội thảo theo Hiệp định chung về Thương mại Dịch vụ. Ví dụ, Chính phủ đã đồng ý cho ngành công nghiệp thực hiện những thủ tục bảo hiểm visa và giấy phép lao động đơn giản hơn và nhanh hơn, bỏ các yêu cầu bình đẳng lương, nâng cao tính minh bạch ở các yêu cầu bằng cấp lao động, nâng cao tính lưu động của các chuyên gia trong nước ở các liên dự án và liên công ty và miễn trừ các khoản thuế an ninh xã hội. Mô hình 4 và đề xuất Dịch vụ Cung cấp Visa theo khuôn khổ của GATS phần lớn là chịu ảnh hưởng của các lợi ích của ngành công nghiệp IT của nước này. Một trong những điểm quan trọng nhất của Hiệp định Hợp tác Kinh tế Toàn diện Ấn-Sing vừa được ký kết gần đây đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự luân chuyển tạm thời của các chuyên gia Ấn Độ tới Singapo, thông qua việc sửa đổi những yêu cầu liên quan tới tiền lương tương ứng, một thay đổi sẽ làm lợi cho các chuyên gia IT Ấn Độ. Trong những năm gần đây, Chính phủ cũng đã bắt đầu tiến hành những nỗ lực tuy còn hạn chế nhằm giữ lại những người tài giỏi trong lĩnh vực IT ở trong nước, chủ yếu thông qua hệ thống giáo dục hợp tác với các hiệp hội công nghiệp. Ví dụ, đã có một kế hoạch đầu tư vào người Ấn lưu vong đang được Hiệp hội Các công ty Dịch vụ Phần mềm Quốc gia (NASSCOM) thực hiện kết hợp với các trường Đại học Ấn Độ. Theo kế hoạch này, sinh viên tốt nghiệp (đặc biệt trong lĩnh vực IT và kỹ thuật) được khuyến khích ở lại và phát triển những kỹ năng của họ ở Ấn Độ chứ không rời tới những nước khác. Kế hoạch này nhằm vào các sinh viên tốt nghiệp chuyên ngành IT có khuynh hướng kinh doanh, những người được khuyến khích khởi đầu công việc kinh doanh của họ ở Ấn Độ. Vì vậy, khu vực giáo dục đang được sử dụng với vai trò là một công cụ để giữ lại người tài, với sự hỗ trợ của NASSCOM, trong việc thành lập các khóa học và các trường đại học tập trung vào lĩnh vực IT để tạo điều kiện phát triển kỹ năng và đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng đối với nhân lực IT ở Ấn Độ. Các viện Công nghệ Thông tin Ấn Độ (IIIT) đã được thành lập ở một số thành phố ở Ấn Độ, hoặc với vai trò là các sáng kiến chung giữa Chính phủ và ngành công nghiệp IT hoặc với vai trò là các sáng kiến riêng của Chính phủ. Các IIIT cấp bằng kỹ thuật phần mềm máy tính và đồng thời tổ chức các khóa học ngắn hạn. Ở nhiều địa phương, đặc biệt là ở miền Nam, chính quyền các bang đã hỗ trợ cho việc thành lập các cơ quan đào tạo tư thục thông qua việc cung cấp các cơ sở vật chất. Sự hỗ trợ của Chính phủ trong việc thúc đẩy giáo dục và đào tạo ở lĩnh vực IT phần lớn là nhằm đáp ứng với nhu cầu về một lực lượng nhân công IT chi phí thấp có chất lượng cao của đất nước vì nước này vẫn đặt ra mục tiêu cạnh tranh về chi phí trong việc cung cấp các dịch vụ chuyên nghiệp trong nước và ngoài nước. Vì vậy, đây là một bước để tạo điều kiện thuận lợi cho việc liên tục cung cấp xuất khẩu dựa trên nhân lực trong ngành công nghiệp này, trong khi vẫn đảm bảo rằng nhân công di cư không làm ảnh hưởng tới ngành công nghiệp về lâu dài.
Nhân lực giỏi trong lĩnh vực IT và kỹ thuật cũng đang được duy trì và thu hút bởi việc ngày càng có nhiều các trung tâm phát triển ở nước ngoài và sự chuyển dịch từ việc cung cấp các dịch vụ ở trong nước sang cung cấp các dịch vụ ở nước ngoài. Mặc dù xu hướng này chủ yếu bị tri phối bởi các động lực của thị trường, nhưng Chính phủ hỗ trợ phi trực tiếp cho sự chuyển dịch này qua mô hình cung cấp dịch vụ bằng cách tạo điều kiện thuận lợi cho việc thành lập các trung tâm phát triển nước ngoài ở Ấn Độ và khuyến khích gia công có giá trị cao hơn, ví dụ như các dịch vụ nghiên cứu, phát triển và phân tích ở Ấn Độ. Trong bối cảnh đó, một số sáng kiến khuyến khích FDI đã được các chuyên gia IT Ấn Độ ở nước ngoài đề xuất dưới sự hướng dẫn của Ủy ban Cấp cao về Người di cư của Ấn Độ.
Lĩnh vực Y tế
Hướng tiếp cận của Chính phủ đối với vấn đề nhân lực di cư có kỹ năng cao ở lĩnh vực y tế của Ấn Độ phần lớn bị định hướng bởi sự lo ngại nạn chảy máu chất xám. Trong quá khứ, Chính phủ Ấn Độ đã tiến hành một số bước để không khuyến khích việc di chuyển của nhân lực làm việc trong lĩnh vực y tế ra nước ngoài, chủ yếu là đối với bác sỹ. Năm 1969, Chính phủ cấm tổ chức cuộc thi cấp chứng chỉ hoạt động trong lĩnh vực y tế ở Mỹ và thế giới cho các bác sỹ (ECFMG) ở trong nước. Ngoài ra, Chính phủ cũng không thực hiện một bước tiến nào để ký các hiệp định công nhận lẫn nhau với các thị trường chủ chốt như Anh và Mỹ. Tuy nhiên, những bước tiến hành như cấm thi ECFMG ở nước này không thành công trong việc ngăn chặn nạn chảy máu chất xám vì các sinh viên y khoa Ấn Độ đã lách được lệnh cấm này bằng cách đăng ký thi ở các nước láng giềng như Thái Lan. Cũng có những đề xuất để yêu cầu những người được đào tạo trong lĩnh vực y tế từ ngân sách của Chính phủ phải có một giai đoạn phục vụ hoặc nộp một khoản tiền lợi tức trước khi họ di cư khỏi đất nước. Tuy nhiên, những đề xuất này không được thực hiện. Cũng có một vài nỗ lực có tính phối hợp nhằm thu hút các nhân lực trong lĩnh vực y tế quay trở lại đất nước hoặc góp phần tái hòa nhập những nhân lực đã quay trở lại đất nước này vào khu vực. Tuy vậy, những bước tiến này chủ yếu được thực hiện bởi từng cá thể bệnh viện và cơ quan, những nơi thuê những nhân lực hồi hương làm việc trong lĩnh vực y tế. Những chương trình này gồm các kế hoạch như Chương trình “dịch vụ miễn phí” cho người hồi hương do Nhóm các bệnh viện Apollo thực hiện. Theo chương trình này, những bác sỹ hồi hương sẽ được hưởng quyền lợi có cổ phần trong bệnh viện và được hưởng không chỉ lệ phí tư vấn của họ mà còn cả một phần trong các hoạt động sinh lợi, vì vậy tạo điều kiện cho họ cảm thấy có quyền sở hữu bệnh viện trong khi đồng thời góp phần làm tăng nguồn tài chính. Apollo cũng đưa ra Chương trình “tiền bảo lãnh” đối với những người hồi hương. Chương trình này có hiệu lực trong giai đoạn một năm, trong thời gian này các bác sỹ không phải lo lắng về việc có đủ bệnh nhân và vì vậy có thể sử dụng thời gian để hòa nhập với hệ thống làm việc, xây dựng các mạng lưới và rèn luyện tay nghề. Tuy nhiên từ khi nền kinh tế được mở cửa vào thập niên 90 của thế kỷ trước, Ủy ban Cấp cao về Người di cư của Ấn Độ đã tiến hành một số động thái nhằm thu hút đầu tư trong lĩnh vực y tế. Từ năm 1996, các bệnh viện và trung tâm chẩn trị được tự động thông qua việc góp cổ phần nước ngoài tới 51%. Các khoản đầu tư bởi những người không phải là người Ấn hoặc những nhà đầu tư người Ấn di cư đã được hưởng những sự những nhân nhượng cao hơn, bao gồm việc thông qua tự động các khoản đầu tư tới 100% cổ phần nước ngoài tham gia và miễn trừ các khoản thuế nhập khẩu nếu ít nhất 25% bệnh nhân được hưởng các dịch vụ điều trị miễn phí. Bản báo cáo gần đây của Ủy Ban cấp cao về Người di cư của Ấn Độ năm 2000 lưu ý rằng NRI và những người có nguồn gốc Ấn là đối tượng hướng tới để phát triển các dịch vụ chăm sóc sức khỏe trong nước, vì cả khu vực tư nhân lẫn nhà nước đều không có các nguồn tài nguyên cần thiết nào để thực hiện những khoản đầu tư như vậy. Tuy nhiên, những cuộc điều tra về các nhà đầu tư NRI và những chuyên gia hồi hương trong lĩnh vực y tế của Ấn Độ chỉ ra rằng Chính phủ vẫn chưa có đủ biện pháp để tạo ra một môi trường hỗ trợ. Các bác sỹ hồi hương chỉ ra những vấn đề nảy sinh trong việc thực hiện các dự án đầu tư trong lĩnh vực y tế do sự quan liêu và tham nhũng ở cấp chính quyền bang. Chưa có một hội đồng hay ủy ban phát triển nào có chức năng tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình đầu tư trong lĩnh vực này, ví dụ như cung cấp thông tin và góp phần vào việc cấp giấy phép và sự chấp thuận. Chính phủ cũng vẫn chưa đưa ra bất cứ một ưu đãi nào dưới dạng các cơ sở hạ tầng hay đất được trợ cấp để khuyến khích đầu tư trực tiếp ở các khu vực chưa có đủ dịch vụ y tế. Ngoài ra, còn các vấn đề như các điều luật lao động hiện có, các cán bộ hỗ trợ được đào tạo còn yếu về chất lượng và thiếu về số lượng. ..
Những sáng kiến gần đây của Chính phủ liên quan tới người di cư có kỹ năng cao
Hiện nay, kể từ khi mở cửa nền kinh tế đã có sự chuyển dịch dần dần trong hướng tiếp cận của Chính phủ Ấn Độ tới vấn đề người di cư có kỹ năng và tiềm năng của dân số không phải là người bản gốc này. Quan điểm coi di cư kỹ năng cao là một phần của hiện tượng chảy chất xám đang chuyển đổi thành khái niệm “chảy ngược chất xám”. Gần đây, Chính phủ Ấn Độ đã có những nỗ lực rõ ràng để khuyến khích sự đóng góp của người di cư cho đất nước, bằng cách tổ chức hợp lý hóa các thủ tục đầu tư cho họ, tư vấn cho họ về các chính sách công nghệ và giáo dục, tổ chức các mạng lưới và các cơ chế hành chính để tiếp cận vốn nhân lực và tài chính của họ một cách hiệu quả hơn.
Một trong những sáng kiến đầu tiên được khởi động vào năm 1999, với việc Bộ Các vấn đề Nội địa ban hành Thẻ Công dân có Nguồn gốc Ấn (PIO) nhằm đích thắt chặt sợi dây liên hệ tình cảm của những người Ấn sinh sống tại nước khác, nhưng mong muốn có những mối quan hệ với quê cha đất tổ. Những người có gốc Ấn cho tới thế hệ thứ tư định cư ở bất cứ nơi đâu trên thế giới, chỉ trừ một vài nước nhất định là có đủ tư cách nhận thẻ. Các cặp vợ chồng nước ngoài có một công dân Ấn hay PIO cũng thuộc phạm vi của quỹ này.
Tháng 9/2000, Bộ Các vấn đề Ngoại địa xây dựng nên Ủy ban Cấp cao về người di cư Ấn. Chức năng của Ủy ban này là giám sát vai trò của PIO và NRI, quyền lợi và các điều kiện thuận lợi dành cho họ ở Ấn Độ và giới thiệu một khung chính sách linh hoạt và rộng để khuyến khích sự đóng góp của họ vào nền kinh tế nước nhà.
Theo một trong những đề xuất của Ủy ban cấp cao về Người di cư, tháng 1/2003, Chính phủ đã tổ chức Ngày Người Ấn Hải ngoại (PBD) lần đầu tiên, để thể hiện sự chú trọng của đất nước tới người Ấn di cư vì những đóng góp của họ cho nền kinh tế và khuyến khích họ tham gia một cách tích cực hơn vào sự phát triển trong tương lai của Ấn Độ. Ngày PBD thứ hai cũng được tổ chức vào tháng 1/2004. Hơn 2500 đại biểu gồm 1500 người Ấn hải ngoại từ 61 nước đã tham gia vào ngày này. Những người Ấn xuất chúng từ khắp nơi trên thế giới, gồm cả những người đoạt giải Nô-ben, những nhà lãnh đạo kinh doanh, các nhà khoa học và đổi mới, các học giả, các chính khách đã tham gia vào cuộc hội thảo. Đại diện cấp cao về phía Chính phủ gồm có Tổng thống, Phó tổng thống, Thủ tướng, Phó thủ tướng, Các Bộ trưởng Nội các…. Ngày PBD lần thứ ba cũng được tổ chức ở Mumbai từ 7-9/1/2005, với sự phối hợp với Phòng Thương mại và Công nghiệp Liên bang (FICCI). Đã có những cuộc thảo luận về các chủ đề giáo dục, công nghiệp dựa trên tri thức, khoa học và công nghệ, y tế, phát triển nông thôn…Một số sáng kiến đặc biệt đã được đề xuất trong lĩnh vực khoa học và công nghệ, với sự liên hệ tới một lực lượng lớn các chuyên gia khoa học và công nghệ người Ấn ở nước ngoài. Mục tiêu là nhằm tăng cường việc phối hợp với tổ chức Các nhà khoa học và công nghệ gốc Ấn (STIOs) ở nước ngoài, bao gồm những người làm việc trong các ngành công nghiệp, các phòng thí nghiệm nghiên cứu, các trường Đại học và các lĩnh vực khoa học ở rất nhiều nước cũng như những người hoạt động thành công với vai trò là các doanh nhân doanh nghiệp dựa vào công nghệ và các nhà tư bản mạo hiểm. Với vai trò là một bộ phận của nỗ lực này, Bộ Khoa học và Công nghệ đã thành lập một website đặc biệt cho các chuyên gia “S&T” hải ngoại với vai trò là một phần của các sáng kiến Người di dân của Bộ các Vấn đề ngoại địa. Website này nhằm mục đích khuyến khích sự đóng góp của STIOs hải ngoại để;
- Phát triển các nguồn nhân lực và năng lực nghiên cứu để làm tăng thêm sự phối hợp để tăng cường các năng lực của giáo dục, nghiên cứu và nguồn nhân lực ở các lĩnh vực hàng đầu của khoa học cơ bản và các công nghệ đỉnh cao;
- Kinh doanh công nghệ để tăng cường năng lực của Ấn Độ trong lĩnh vực này, tận dụng tài trợ mạo hiểm và tư vấn cho thế hệ trẻ trong việc tạo ra của cải từ tri thức,
- Xây dựng Ấn Độ với vai trò là một trung tâm khoa học quốc tế bằng cách khuyến khích sự tham dự của các nhà khoa học và các cơ quan Ấn Độ vào các dự án khoa học quốc tế và các chương trình có các cơ sở nghiên cứu tiên tiến ở nước ngoài;
- Xây dựng Ấn Độ thành một cơ sở R&D toàn cầu với vai trò là đích đến của gia công R&D ưu tiên, và
- Tạo dựng mối quan hệ học đường để gắn kết sinh viên đại học ở nước ngoài với trường học của họ vì các mối quan hệ có mục đích và bền vững.
Bộ Khoa học và Công nghệ đang thực hiện những bước tiến để phối hợp với giới học viện, các viện nghiên cứu, các phòng thí nghiệm, ngành công nghiệp và doanh nghiệp Ấn, để tạo điều kiện thuận lợi cho sự hợp tác, truyền bá thông tin về các cơ quan và chương trình khoa học và công nghệ đặc biệt và các cơ hội mà các STIOs ở nước ngoài có thể quan tâm.
Nguồn: Competing for global talent, International Institute for Labour Studies, 2006

 
Trung tâm Thông tin Khoa học Công nghệ Quốc gia