Malaixia phát triển ngành công nghiệp điện tử như thế nào? |
||
| Dạng tài liệu | : | Bài trích bản tin |
| Ngôn ngữ tài liệu | : | vie |
| Tên nguồn trích | : | Tri thức và phát triển |
| Dữ liệu nguồn trích | : | 2006/Số 30/XU THẾ, DỰ BÁO, CHIẾN LƯỢC, CHÍNH SÁCH: |
| Đề mục | : | 06.71 Cơ cấu kinh tế theo ngành. Các ngành kinh tế |
| Từ khoá | : | Malaixia ; Công nghiệp điện tử ; Ngành điện tử ; Điện tử |
| Tóm tắt tiếng Việt | ||
|
Mới đây, Bộ Bưu chính Viễn thông và Hiệp hội Doanh nghiệp Điện tử Việt Nam đã tổ chức Hội thảo “Đánh giá thực trạng công nghiệp điện tử Việt Nam và phương hướng phát triển đến 2010, tầm nhìn đến 2020”. Với kỳ vọng trở thành ngành công nghiệp mũi nhọn, Nhà nước ta đã liên tục bảo hộ ngành công nghiệp quan trọng này của Việt Nam trong suốt gần 30 năm qua. Thế nhưng, đến nay nhìn lại, thực trạng của ngành điện tử nước ta gần như khó có gì để hy vọng cho tương lai. Ngành này đang mất cân đối nghiêm trọng trong cơ cấu sản phẩm. Việt Nam hiện được xem là nước có thâm niên lắp ráp sản phẩm điện tử thuộc nhóm lâu nhất thế giới. Thông thường, các nước chỉ mất từ 5 đến 10 năm cho giai đoạn lắp ráp, sau đó họ đi vào sản xuất linh kiện, thiết kế sản phẩm. Còn Việt Nam đã qua gần 30 năm lắp ráp, nhưng vẫn chưa có dấu hiệu gì chứng tỏ sắp vượt qua giai đoạn này. Hy vọng, kinh nghiệm của Malaixia được giới thiệu dưới đây có thể hữu ích cho Việt Nam trong việc phát triển ngành công nghiệp điện tử của mình.
|
||
| Nội dung: | ||
|
1. Chính sách công nghiệp
Dưới sự lãnh đạo dưới thời Thủ tướng Mahathir, Bộ Phát triển Công Nghiệp (MIDA) đã thực hiện nhiều chính sách phát triển công nghiệp, bao gồm chính sách phát triển nguồn tài nguyên thiên nhiên, chính sách thu hút đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực điện và điện tử và các ngành công nghiệp liên quan, cũng như chính sách thu hút đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực sản xuất ô-tô nội địa. Đặc biệt dưới Chính sách “Nhìn về Đông Á”, với mục đích cố gắng đạt được sự tăng trưởng kinh tế như Nhật Bản, Chính phủ đã tập trung phát triển chính sách nhằm thúc đẩy các ngành hướng xuất khẩu, thông qua các biện pháp hấp dẫn đầu tư nước ngoài và đã thành công trong việc tạo ra một hệ thống rộng lớn các nhà sản xuất trong ngành điện và điện tử. Công việc quản lý kinh tế rất khó khăn trong suốt thời kỳ khủng hoảng tài chính khu vực trong năm 1997 đã buộc Chính phủ phải cải cách cơ cấu công nghiệp. Tuy nhiên, Malaixia đã vượt qua thời kỳ khó khăn do biết chấp nhận một chính sách tỷ giá hối đoái độc lập (một tỷ giá hối đoái cố định) không chịu ảnh hưởng với các thúc ép từ Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và bây giờ đang phát huy tác dụng, tạo tiền đề cho con đường phát triển trong thế kỷ 21. Chính sách kinh tế dựa vào sự hấp thụ của vốn nước ngoài đã chứng minh sự thành công và Malaixia đang trở thành quốc gia dẫn đầu về phát triển kinh tế trong khu vực ASEAN. Tuy nhiên, đối lập với những dự định hồi đó của Thủ tướng Mahathir, xã hội Malaixia đã đối xử ưu đãi thiên vị người Mã Lai trong kinh tế, chính trị. Trong bối cảnh đó, vô hình chung nền kinh tế và các doanh nghiệp đã không phổ biến triết lý sản xuất (Monodukuri) mà các công ty Nhật bản tìm kiếm. Kết quả là không có nhiều các kỹ thuật công nghệ cao đuợc chuyển giao cho những doanh nghiệp bản địa. Trong khoảng thời gian giữa thập kỷ 90, do nguồn lực lao động có hạn và sự yếu kém dần năng lực cạnh tranh, Chính phủ đã công bố một chính sách chuyển dịch nền kinh tế dựa vào sản xuất (P-Economy) sang nền kinh tế dựa trên tri thức (K-Economy), với mục tiêu thoát khỏi nền kinh tế dựa vào các ngành công nghiệp lắp ráp phụ thuộc vào vốn đầu tư từ nước ngoài. Mặc dù các doanh nghiêp của Malaixia dường như có vị trí tương đối tốt khi cạnh tranh với các doanh nghiệp Trung Quốc nhờ vào một hệ thống rộng lớn của các công ty Nhật Bản và các công ty nước ngoài, nhưng nước này vẫn thay đổi mạnh chính sách đầu tư nước ngoài sau cuộc khủng hoảng kinh tế khu vực. Những dự định của Malaixia giờ đây là chuyển dịch sang phát triển các ngành công nghiệp có giá trị gia tăng cao thông qua đầu tư vào R&D và đầu tư vào công nghệ thông tin (CNTT). Malaixia đang nỗ lực rất lớn để tạo ra Hành lang Siêu xa lộ thông tin được đưa ra từ giữa năm 1990. Chính sách “Hướng Đông Á” Trong quá trình thiết kế phát triển chiến lược xây dựng quốc gia, Thủ tướng Mahathir đã chọn lựa Chính sách “Hướng Đông Á” vào năm 1981, với mục đích học tập kinh nghiệm phát triển của Nhật Bản và Hàn Quốc. Cùng với chính sách ưu đãi người thiểu số Malai (Bumiputra), Thủ tướng Mahathir đã xây dựng một hệ thống cử người Malay tới các nước trên thế giới để học hỏi. Khi Thủ tướng Mahathir lưu ý đặc biệt với đặc điểm về tinh thần công việc, đạo đức kinh doanh và kỹ năng quản lý của người Nhật, xấp xỉ 14.000 sinh viên Mã Lai đã được học tập tại Nhật Bản dưới chính sách này đến năm 2003. Những sinh viên muốn tham gia vào chương trình này được học tập khóa dự bị trong các trung tâm của Nhật Bản trong khuôn viên các trường đại học của Malaixia trước khi tới các trường đại học Nhật để học tập. Tính tới nay, 1.580 sinh viên Mã Lai đã hoàn thành chương trình học tập của mình trong các trường đại học quốc gia Nhật Bản thuê nhân công địa phương thường nhìn nhận các sinh viên du học tự túc tốt nghiệp các trường nước ngoài tài năng hơn các sinh viên tốt nghiệp các trường đại học ưu đãi cho người Mã Lai. Tuy nhiên, chính sách Nhìn về hướng Đông đã tồn tại 20 năm, một số cựu sinh viên ở Nhật Bản đã tận dụng ưu thế kinh nghiệm làm việc với các công ty Nhật Bản để thành lập các doanh nghiệp riêng. Gần đây, 25 doanh nghiệp thành công đã tập hợp lại để thành lập một liên doanh “Hướng Đông Á”, và bằng cách phát triển và thành lập văn phòng công nghiệp và thương mại, đang triển khai công việc cầu nối giữa doanh nghiệp Nhật Bản (đặc biệt là Phòng Thương mại công nghiệp Nhật Bản) và các doanh nghiệp nội địa của người bản xứ. Sáng kiến Hành lang Siêu xa lộ thông tin Mặc dù Malaixia tiếp tục là một trung tâm sản xuất chính của công nghiệp điện và điện tử trong khu vực ASEAN, nhưng nước này đang bị cản trở bởi 2 vấn đề chính: (i) Mạng lưới các ngành công nghiệp phụ trợ gây ra sự phụ thuộc vào các sản phẩm nhập khẩu nguyên vật liệu và phụ kiện; (ii) Tình trạng khan hiếm lực lượng lao động gây nên chi phí lao động cao. Do vậy, như là một phần trong chương trình Siêu xa lộ thông tin, Chính phủ đã công bố chính sách thúc đẩy lĩnh vực điện và thiết bị viễn thông-phần mềm. Điều này có nghĩa là sự chuyển dịch sản xuất thiết bị điện và thiết bị hàng điện dân dụng tiêu dùng sang các linh vực khác. Trong bất cứ trường hợp nào, bởi vì Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN (AFTA) sẽ buộc các quốc gia tập trung vào những lĩnh vực mà có lợi thế cạnh tranh, nên không sớm thì muộn, tốc độ sản xuất các hàng hóa thiết bị điện tiêu dùng thông dụng sẽ có xu hướng giảm xuống. Chương trình Siêu xa lộ thông tin đã tạo ra một trung tâm R&D cho các ngành công nghiệp dựa trên công nghệ thông tin.Trung tâm này có diện tích khoảng 15 km2 trải dài từ trung tâm thủ đô Kuala Lumpur ở phía Bắc tới Sân bay quốc tế Kuala Lumpur ở Sepang ở phía Nam. Trung tâm này tổng cộng có 8 dự án đặc biệt bao gồm một trung tâm y tế từ xa, một trường học chất lượng cao, các cơ sở nghiên cứu R&D, trung tâm đa chức năng và chính phủ điện tử. Các công ty liên quan đến bất kỳ một trong những dự án trên được những ưu đãi như được lựa chọn miễn 100% thuế đầu tư hoặc là ưu đãi cho các nhà đầu tư tiên phong trong vòng 10 năm. Các công ty này cũng được phép tuyển dụng các chuyên gia nước ngoài khi cần thiết. Ban đầu, những nghi ngờ đã tồn tại xung quanh việc xây dựng Hành lang Siêu xa lộ thông tin như là biểu tượng của sự chuyển dịch sang nền kinh tế tri thức sau hậu quả của khủng hoảng kinh tế. Nhưng trong thực tế, Hành lang Siêu xa lộ thông tin đã được mở rộng một cách vững chắc. Xấp xỉ khoảng 800 công ty trong và ngoài nước đã tham gia vào Siêu xa lộ thông tin và vào Dự án chính phủ điện tử được xúc tiến bởi Chính phủ Malaixia, hoặc là sử dụng chúng như là một trung tâm R&D riêng của công ty mình. Có rất ít sự tham gia của các công ty Nhật Bản tại Hành lang Siêu xa lộ thông tin, tuy nhiên hoạt động của các công ty Nhật tham gia dự án, như các công ty NTT và Matsushita cũng rất nhỏ và chỉ có một số ít các chuyên gia và các nhân viên phát triển tham gia. Bên cạnh đó, công ty IBM và các công ty phương Tây khác đang bắt tay xây dựng các nhóm R&D ở đó với hàng trăm các chuyên viên nghiên cứu liên quan. 2. Khái quát vể sự phát triển ngành công nghiệp điện tử Malaixia Công nghiệp điện và điện tử là ngành công nghiệp quan trọng trong nền kinh tế Malaixia, chiếm 3,5 % tổng số nhân công trong cả nước, 56 % kim ngạch xuất khẩu và 49 % kim ngạch nhập khẩu của nền kinh tế. Giai đoạn đầu, các công ty sản xuất nước ngoài đầu tư vào Malaixia với mục đích tận dụng chi phí sản xuất rẻ nhờ vào các chính sách cơ chế khuyến khích đầu tư, nguồn nhân lực rẻ, các khu chế xuất và hệ thống cơ sở hạ tầng như đường sá, hải cảng, sân bay và thông tin liên lạc. Hơn nữa, hoạt động đầu tư phát triển không ngừng trong suốt hơn 30 năm dưới nền tảng một nền chính trị ổn định, minh bạch, nhất quán và khả năng giao tiếp tiếng Anh và các điều kiện môi trường thuận lợi đã chuyển hóa Malaixia thành một trung tâm sản xuất công nghiệp điện và điện tử. Ở góc độ chính quyền địa phương, các chính quyền địa phương đã liên tục điều chỉnh chính sách, nhằm tạo môi trường kinh doanh thuận lợi nhất cho các công ty nước ngoài và cung cấp những dịch vụ phù hợp cho các công ty đã đầu tư trước đó. Điều này đã dẫn tới vòng đầu tư tuần hoàn thuận lợi cho việc mời gọi các dự án mới tiếp theo sau. Hiện tại, Malaixia có 14 Khu chế xuất và 200 Khu công nghiệp mà hầu hết được xây dựng do sự quản lý và khuyến khích của chính quyền địa phương. (Còn tiếp) Nguồn: Development Study, 1/2006 |
||
