Khu vực Mậu dịch Tự do Trung Quốc - ASEAN |
||
| Dạng tài liệu | : | Bài trích bản tin |
| Ngôn ngữ tài liệu | : | vie |
| Tên nguồn trích | : | Tri thức và phát triển |
| Dữ liệu nguồn trích | : | 2006/Số 29/HỘI NHẬP VÀ PHÁT TRIỂN: |
| Đề mục | : | 06.91 Kinh tế từng nước |
| Từ khoá | : | Khu vực Mậu dịch Tự do ; Trung Quốc ; ASEAN |
| Nội dung: | ||
|
Không thể phủ nhận việc đưa ra và từng bước thực hiện ý tưởng về “Khu mậu dịch tự do Trung Quốc - ASEAN” đã gây được sự chú ý rộng rãi của dư luận cả khu vực Đông Á và thậm chí là cả khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Ý tưởng này đã, đang và sẽ tiếp tục có những ảnh hưởng sâu sắc, tích cực đối với Trung Quốc và các nước ASEAN. Hơn thế, nó cũng sẽ có những ảnh hưởng tích cực đối với tiến trình hợp nhất kinh tế, chính trị Đông Á và cục diện thế giới.
Giới học giả trong và ngoài Trung Quốc đã có rất nhiều bài viết phân tích về bối cảnh của ý tưởng thiết lập “Khu mậu dịch tự do Trung Quốc - ASEAN”. Gần như không ai phủ nhận cuộc khủng hoảng tài chính Đông Á có ảnh hưởng mạnh mẽ tới việc đưa ra và được các bên hữu quan chấp nhận ý tưởng này. Trước khi nổ ra khủng hoảng tài chính Đông Á, khu vực Đông Nam Á là một bộ phận cấu thành quan trọng của kỳ tích kinh tế Đông Á, chính sách kinh tế vĩ mô và chính sách điều chỉnh kết cấu của các nước trong khu vực trở thành một trong những tiêu điểm quan tâm của giới học giả quốc tế. Thế nhưng chỉ trong vòng vài tháng, trước sự tấn công của cuộc khủng hoảng kinh tế Đông Á, khu vực Đông Nam Á gần như đã trở thành điển hình của thất bại. Mọi người đã điều chỉnh tư duy trước đây, xem xét lại điểm yếu cố hữu của khu vực này. Mặc dù giới học giả có những nhận thức khác nhau về nguyên nhân của khủng hoảng tài chính Đông Á, nhưng các nước này thiếu khả năng đối phó hữu hiệu đối với sự tác động từ bên ngoài là một thực tế. Cơ cấu tài chính quốc tế do các nước phát triển như Mỹ và châu Âu chủ đạo rõ ràng thiếu sự đồng tình cần thiết đối với các nước chịu tác động của khủng hoảng tài chính Đông Á, thậm chí lấy việc áp đặt chính sách kinh tế không phù hợp cho một số nước nào đó làm điều kiện cung cấp tín dụng viện trợ. Inđônêxia dưới sự tác động của cuộc khủng hoảng, kinh tế rơi vào tình trạng khó khăn nghiệm trọng nhất trong vòng 30 năm qua, dẫn đến khủng hoảng chính trị và xã hội, các thế lực ly khai nhanh chóng nổi lên. Điều này không chỉ đem thảm họa nghiêm trọng đến với Inđônêxia, mà còn làm cho tổ chức ASEAN mất đi người lãnh đạo hiệu quả. Malaixia từ chối chấp nhận điều kiện viện trợ của Tổ chức Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), thực hiện chính sách quản lý vốn và tỷ giá cố định, thông qua thực hiện chính sách kinh tế vĩ mô có hiệu quả, tránh được sự trượt dốc của nền kinh tế. Nhưng trong đời sống kinh tế chính trị, một số mâu thuẫn tầng sâu chưa được giải quyết, cục diện chính trị cũng xuất hiện những biến động. Nói một cách tương đối, Singapo chịu ảnh hưởng khá nhẹ của khủng hoảng tài chính Đông Á, nhưng là một nền kinh tế mở cao độ, chịu ảnh hưởng của một môi trường khu vực và quốc tế bất lợi, những năm gần đây cũng gặp khó khăn nghiêm trọng. Còn ASEAN, một tổ chức hợp tác kinh tế khu vực quan trọng, nhưng trên phương diện ngăn chặn và giải quyết khủng hoảng tài chính gần như không có tác dụng. Đối mặt với tính bất định trong quá khứ, các nước Đông Nam Á có thể đã nhận thức được rằng muốn ngăn chặn rủi ro từ bên ngoài, cần phải tăng cường mối quan hệ với các nền kinh tế lớn và có thực lực hơn, tăng cường khả năng chống lại tác động từ bên ngoài. Từ năm 1988 đến nay, trong bối cảnh đồng tiền của nhiều nước lần lượt giảm giá, Trung Quốc kiên định cam kết không phá giá đồng Nhân dân tệ, đồng thời thực hiện chính sách tài chính mở rộng và chính sách tiền tệ ổn định, ngăn chặn thành công sự tấn công của khủng hoảng tài chính Đông Á và duy trì tăng trưởng kinh tế với tốc độ cao, có những đóng góp to lớn cho ổn định kinh tế khu vực và thế giới. Nhưng cần nhận định rằng Trung Quốc sở dĩ có thể thực hiện được chính sách kinh tế vĩ mô độc lập, tiền để cơ bản là khoản thu chi vốn quốc tế luôn trong tình trạng được kiểm soát. Trong bối cảnh thị trường tài chính quốc tế thiếu tính ổn định hiện nau, Trung Quốc cuối cùng sẽ không thể tránh khỏi việc phải đối mặt với những rủi ro do tính bất định gây ra. Nhằm tăng cường khả năng chống lại những biến động của bản thân, sớm tăng cường mối liên hệ và hợp tác với các nền kinh tế bên ngoài chính là sự lựa chọn thông minh. Tóm lại, khủng hoảng tài chính Đông Á đã tạo ra động lực thúc đẩy và chứng minh tính đúng đắn của ý tưởng thiết lập “Khu mậu dịch tự do Trung Quốc - ASEAN”. Việc thực hiện ý tưởng khu mậu dịch tự do Trung Quốc - ASEAN sẽ tăng cường khả năng chống lại rủi ro của các bên hữu quan, tạo ra môi trường có lợi cho phát triển kinh tế, nâng cao địa vị và phát huy vài trò cần có của những nước này trong đời sống chính trị quốc tế. Thực hiện ý tưởng “Khu mậu dịch tự do Trung Quốc - ASEAN” nếu như chỉ là một khâu tiến tới hợp tác khu vực ở phạm vi lớn hơn và tầng nấc sâu hơn, thì sự tham dự của Nhật Bản và các nền kinh tế Đông Á khác là một trong những điều kiện quan trọng của việc thực hiện thành công hợp nhất kinh tế Đông Á, sánh ngang với Bắc Mỹ và châu Âu trong cục diện kinh tế quốc tế. Nhật Bản vẫn đang là nền kinh tế lớn nhất Đông Á, chiếm vị trí quan trọng nổi bật trong bản đồ kinh tế thế giới. Kể từ khi đồng Yên Nhật tăng giá mạnh vào giữa những năm 80 thế kỷ 20, mối quan hệ kinh tế Nhật Bản với khu vực Đông Á lộ rõ xu thế không ngừng phát triển và đi vào chiều sâu. Và cũng chính do mối liên hệ chặt chẽ này mà khủng hoảng tài chính Đông Á đã gây ra tổn thất lớn cho giới tài chính Nhật Bản và trong tất cả các nước phát triển, tổn thất của Nhật Bản là nghiêm trọng nhất. Bất kể là từ góc độ tích cực hay tiêu cực, Nhật Bản đều là người tham gia tích cực và mạnh mẽ trong hợp nhất kinh tế Đông Á. Do quan hệ đặc biệt giữa Nhật Bản với các nước lớn như Mỹ, sự tham dự tích cực hơn của Nhật Bản sẽ có lợi ở chỗ làm giảm bớt những lo ngại từ bên ngoài đối sự hợp nhất của Đông Á, đồng thời có lợi cho tăng cường các mối liên hệ ngoài khu vực. Một số sự việc gần đây cho thấy, Nhật Bản đang tích cực áp dụng biện pháp, tranh thủ hội nhập kinh tế Đông Á ở mức độ lớn hơn. Ngày 12/12/2003, Hội nghị Cấp cao đặc biệt giữa Nhật Bản với ASEAN đã bế mạc tại Tôkyô. Hội nghị đã đưa ra “Tuyên ngôn Tôkyô” và “Kế hoạch hành động” nhằm tăng cường quan hệ kinh tế, chính trị, an ninh của Nhật Bản với các nước ASEAN. “Tuyên ngôn Tôkyô” chỉ rõ Nhật Bản và các nước ASEAN thông qua tất cả các hình thức hợp tác kinh tế bao gồm cả việc ký kết các hiệp định mậu dịch tự do, tranh thủ thực hiện liên kết song phương trên phương diện kinh tế, tiến tới “Tăng cường quan hệ đối tác chính trị, an ninh”, đồng thời thực thi những hành động chung, bao gồm chống chủ nghĩa khủng bố, hoạt động tấn công cướp biển, ngăn chặn phỏ biến vũ khí giết người hàng loạt... Tuy ngôn đề cập cả ý tưởng thiết lập “Khối cộng đồng Đông Á” do Nhật Bản đưa ra. Tuyên ngôn nêu rõ viện trợ chính thức của Nhật Bản (ODA) sẽ ưu tiên các nước ASEAN”. “Kế hoạch hành động” mà hội nghị thông qua nêu rõ trong vòng 3 năm, Nhật Bản sẽ chi 1,5 tỷ USD vốn hợp tác cho các nước ASEAN trong lĩnh vực đào tạo nhân tài và khai thác lưu vực sông Mê Kông. Một bài bình luận của Reuters cho rằng ý đồ này của Nhật Bản là nhằm “xóa đi ảnh hưởng của Trung Quốc tại khu vực Đông Nam Á”. Nhìn từ góc độ vĩ mô, Nhật Bản tranh giành quyền chủ đạo hợp nhất kinh tế Đông Á cũng không phải là việc xấu, các nước cùng cạnh tranh quyền lãnh đạo kinh tế khu vực sẽ có lợi cho đẩy nhanh hợp nhất kinh tế mang tính khu vực. Nói tóm lại, thực hiện ý tưởng thiết lập “Khu mậu dịch tự do Trung Quốc - ASEAN” sẽ đưa ra sự bảo đảm hơn nữa cho việc Trung Quốc và ASEAN tăng cường chống lại rủi ro bên ngoài, từ đó tạo ra môi trường có lợi hơn cho phát triển kinh tế của mỗi bên. Đồng thời, cũng tạo ra nhiều nhân tố ổn định hơn cho môi trường an ninh của khu vực Đông Á. Trong tương lai, sự tham dự của kinh tế Nhật Bản và các nền kinh tế Đông Á khác sẽ tạo ra viễn cảnh tốt đẹp hơn cho việc hợp nhất kinh tế khu vực và nâng cao địa vị quốc tế của khu vực Đông Á. (Con số & Sự kiện, Số 5/2006 (333)) ********************* |
||
