Chương trình năng lượng mới của Mỹ thúc đẩy công nghệ khí tổng hợp |
||
| Dạng tài liệu | : | Bài trích bản tin |
| Ngôn ngữ tài liệu | : | vie |
| Tên nguồn trích | : | Tri thức và phát triển |
| Dữ liệu nguồn trích | : | 2006/Số 29/XU THẾ, DỰ BÁO, CHIẾN LƯỢC, CHÍNH SÁCH: |
| Đề mục | : | 44.09 Nguồn năng lượng. Cân bằng năng lượng |
| Từ khoá | : | Năng lượng ; Mỹ ; Khí tổng hợp |
| Nội dung: | ||
|
Với những vấn đề giá khí tự nhiên tăng cao gây khó khăn cho các cơ sở sản xuất trên thế giới, các hệ thống sử dụng nguồn nhiên liệu thay thế như các sản phẩm than khí hóa ngày càng được quan tâm. Các chuyên gia môi trường thúc giục sử dụng khí tự nhiên trong các cơ sở mới vì các đặc tính có lợi của nhiên liệu về khía cạnh các sản phẩm phát thải bất lợi so với các thiết bị sử dụng than. Điều không may là việc sử dụng khí tự nhiên nhiều trên thế giới đã đẩy giá lên cao, dẫn đến tính kém hấp dẫn về kinh tế so với các nhà máy điện chạy bằng than thông thường. Hiện nay, các tiến bộ công nghệ và sự phổ biến khắp nơi của nguồn nguyên liệu than đã làm người ta cân nhắc trở lại sử dụng nguồn nguyên liệu này, một điều được thể hiện trong sự nhấn mạnh của Bộ Năng lượng Mỹ về sử dụng khí tổng hợp từ than trong những năm tới để vận hành tua bin khí hoặc các cơ sở chu trình kết hợp (khí và tua bin hơi).
Tình hình này dẫn đến việc Bộ Năng lượng Mỹ đề ra phương hướng sử dụng nguồn nhiên liệu mới như Chương trình FutureGen Program và các điều khoản về khí hóa trong Đạo luật Năng lượng mới được Quốc hội thông qua đầu năm 2005. Các dấu hiệu có liên quan đến tình hình này cũng thể hiện trong các báo cáo tại Hội nghị của Ủy ban Công nghệ Khí hóa/Viện Nghiên cứu Điện Poer tại San Francisco, có nhiều kế hoạch cho các cơ sở thiết bị mới trên cơ sở khí tổng hợp trong thập niên tới. Các kế hoạch này bao hàm chương trình thiết lập 3 cơ sở 650 MW cho lưới điện của Mỹ và 1 nhà máy mới công suất 650 MW của PSI Energy/Cinergy, tất cả ở các bang miền Trung Tây nước Mỹ. Phát triển hoạt động khí hóa đáng kể này ở Mỹ được thúc đẩy nhờ một số điều khoản của Đạo luật Chính sách Năng lượng năm 2005. Đánh giá hoạt động pháp lý của Hội đồng Công nghệ Khí hóa, các nhà phân tích của Hãng E3 Venture cho biết, Đạo luật bao gồm việc chi hơn 5 tỷ USD cho nghiên cứu, phát triển và tài trợ cho sử dụng thương mại các công nghệ nhiên liệu hóa thạch (1,26 tỷ USD chi cho khí hóa và phần còn lại chi cho nhiên liệu hóa thạch và các chương trình khí hóa khác; 1,15 tỷ USD ở dạng 20% khấu trừ thuế trước cho các dự án khí hóa và số lượng tiềm năng không hạn chế của 80%, bảo đảm cho vay của liên bang trong 30 năm). Các chương trình khuyến khích Nghiên cứu các điều khoản này, các chuyên gia E3 Venture nhấn mạnh các biện pháp khuyến khích có tiềm năng tạo ra khả năng cạnh tranh mạnh cho sản xuất khí tổng hợp so với khí tự nhiên để sử dụng trong công nghiệp và cho phép các nhà máy điện chu trình kết hợp khí hóa tích hợp sản xuất điện với giá rất cạnh tranh. Các biện pháp khuyến khích này, hầu hết được áp dụng cho một số hạn chế các dự án khởi đầu, tạo tiềm năng cho các tổ chức sớm áp dụng công nghệ khí hóa thương mại nhận thấy lợi ích kinh tế, đồng thời với việc đẩy nhanh các mục tiêu môi trường và năng lượng quốc gia quan trọng. Tóm tắt các chương trình khuyến khích Danh mục Bộ phận Biện pháp khuyến khích Cấp phép Danh mục IV - Than A - Sáng kiến Năng lượng Than Sạch Hỗ trợ chia sẻ chi phí tới 50% 1,26 tỷ USD (cho các công nghệ khí hóa) B - Dự án Năng lượng Sạch Bảo đảm cho vay và tài trợ cho các dự án đặc biệt Cho phép tài trợ khi cần thiết (80 triệu USD cho 1 dự án) C - Chương trình Than và Chương trình có liên quan Hỗ trợ chia sẻ chi phí tới 50% 2,5 tỷ USD (cho các công nghệ khí hóa và công nghệ đốt tiên tiến) Danh mục V -Năng lượng cho người Da đỏ ở Mỹ 501-503 Tài trợ, cho vay trực tiếp, bảo đảm cho vay 220 triệu USD cho tài trợ Cho phép cấp thêm kinh phí cho tài trợ, cho vay trực tiếp và bảo đảm cho vay (tổng bảo đảm cho vay không quá 2 tỷ USD) Danh mục XI - Nghiên cứu và Phát triển 961-962 Tài trợ cho nghiên cứu, phát triển, trình diễn và ứng dụng thương mại 1.137 tỷ USD (sẽ có vào năm 2007-2009) Danh mục XIII - Biện pháp Khuyến khích Thuế trong Chính sách Năng lượng 1307 20% ITC đầu tư khí hóa IGCC cho các đảo20% ITC đầu tư cho khí hóa công nghiệp 800 triệu USD cho IGCC350 triệu USD cho khí hóa công nghiệp Danh mục XVII - Biện pháp khuyến khích các Công nghệ Đổi mới 17-1-1703 80% bảo đảm cho vay của Liên bang Cho phép tài trợ khi cần thiết.(Trường hợp không có ngân sách phân bổ, chủ sở hữu sẽ chịu chi phí bảo đảm cho vay) Tình hình tài trợ Theo E3 Venture, Đạo luật này "chỉ cho phép tài trợ các chương trình khuyến khích này, mà không đưa ra ngân sách phân bổ cụ thể. Vì vậy, trước khi có kinh phí để tài trợ và cho các chương trình bảo đảm cho vay, tiền sẽ cần được phân bổ như là một phần của quá trình phân bổ ngân sách Liên bang. Mặt khác, khấu trừ thuế trước, không đòi hỏi kinh phí phân bổ thêm và sẽ có khi các chương trình được thiết lập để áp dụng chúng". Tuy nhiên, trong lúc chính quyền hiện nay có xu thế không coi trọng các biện pháp mà phần còn lại của thế giới thực hiện để chống sự nóng lên toàn cầu, sự nhấn mạnh vào nghiên cứu chương trình FutureGen đã được tuyên bố ngay từ đầu là tìm kiếm "Năng lượng Sạch". E3 Venture nhấn mạnh "Chất lượng của các biện pháp khuyến khích trong các phần khác nhau của Đạo luật đòi hỏi mức độ khác nhau về tính năng của môi trường và hiệu quả về môi trường. Trong một số phần của Đạo luật, đã thiết lập yêu cầu về chất lượng và trong một số phần khác đã xác lập các mục tiêu về hiệu quả”. Đồng thời với việc nhấn mạnh vào sử dụng khí hóa để cung cấp nhiên liệu cho các hoạt động chu trình kết hợp, Đạo luật cũng nêu lên các lĩnh vực nghiên cứu khác, như chu trình kết hợp tua bin và pin nhiên liệu khí hóa, đồng sản xuất khí hóa, đốt cháy và khí hóa lai và các công nghệ than tiên tiến khác có khả năng sản sinh phát thải cacbon đioxyt ít. Trong nhiều khía cạnh khác, các điều khoản của Đạo luật cũng bao hàm việc yêu cầu Bộ Năng lượng Mỹ đến tháng 3 năm 2007 đệ trình báo cáo lên Quốc hội "chi tiết hóa quá trình khẳng định và đánh giá, thiết lập các bước tiến lớn về kỹ thuật cho chương trình và đánh giá xem liệu các mức tài trợ đã phù hợp chưa”. (Technology Forecasts, 12/2005) ************* |
||
