Chiến lược năng lượng của Trung Quốc |
||
| Dạng tài liệu | : | Bài trích bản tin |
| Ngôn ngữ tài liệu | : | vie |
| Tên nguồn trích | : | Tri thức và phát triển |
| Dữ liệu nguồn trích | : | 2006/Số 26/XU THẾ, DỰ BÁO, CHIẾN LƯỢC, CHÍNH SÁCH: |
| Đề mục | : | 06.75 Quản lý kinh tế |
| Từ khoá | : | Chiến lược năng lượng ; Trung Quốc ; Chiến lược ; Năng lượng |
| Nội dung: | ||
|
Trước tình trạng bất ổn định về năng lượng trên thế giới, các nước Âu Mỹ và Nhật Bản phải đi tìm một chiến lược mới, kể cả việc phát triển năng lượng hạt nhân để bảo toàn sự phát triển kinh tế của họ, vì đa số các nước này còn tuỳ thuộc nguồn năng lượng ở ngoài. Việc 2 tập đoàn năng lượng của Italia và Đức muốn mua lại Tập đoàn năng lượng SUEZ của Pháp và ENDESA của Tây Ban Nha chính là nằm trong chiến lược này. Năng lượng ngày nay đang trở thành một vũ khí chính trị hàng đầu.
Các nước đang đang tiến hành công nghiệp hoá có tăng trưởng kinh tế cao, như Trung Quốc, Ấn Độ, Braxin... cũng không khoanh tay chờ giá dầu giảm xuống. Họ cũng có chiến lược riêng cho họ. Về năng lượng, nếu Trung Quốc là nước sản xuất và xuất khẩu thứ nhất trên thế giới về than đá, tương ứng là 2,2 tỷ tấn và 80 triệu tấn trong năm 2005, thì các nguồn năng lượng khác như dầu, các loại khoáng sản đều phải nhập từ nước ngoài, đặc biệt từ vùng Trung Đông, châu Phi và các nước Trung Á. Hiện nay, Trung Quốc là nước có mức tiêu dùng dầu thứ 2 trên thế giới sau Mỹ. Muốn nhập dầu từ Trung Đông và châu Phi, con đường duy nhất cho Trung Quốc là đường biển, mà hiện nay do hải quân Mỹ kiểm soát, chưa nói đến hải tặc xung quanh eo biển Malacca. Cần nhắc lại là eo biển Malacca là nơi 80% dầu nhập của thế giới phải đi qua (Le Monde 21/10/05). Như vậy, Trung Quốc cần phải có một chiến lược toàn cầu dài hạn để bảo toàn sự phát triển của quốc gia. Do đó, mối quan tâm của Bắc Kinh là tìm nguồn năng lượng ở nước ngoài mà không bị Mỹ ngăn chặn trong trường hợp xung đột với Đài Loan. Trong khi chờ đợi trường hợp nói trên có thể xảy với hậu quả khó lường, Trung Quốc đã bắt đầu thực hiện chiến lược tìm nguồn năng lượng mới. Chiến lượcnày bao gồm chiến lược ngoại giao toàn cầu và chiến lược tìm nguồn năng lượng thay thế ở trong nước. 1. Chiến lược ngoại giao toàn cầu Trong hai hướng đi tìm nguồn năng lượng mới, chiến lược ngoại giao toàn cầu trở thành quốc sách. Chiến lược này bao gồm nhiều hình thức, từ các chuyến công du của lãnh đạo tới nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là các nước có tiềm năng dầu hoả và khoáng sản. Đồng thời, Bắc Kinh trải thảm đỏ mời lãnh đạo các nước sản xuất dầu khí tới thăm nước mình. Ngày nay, châu Mỹ La-tinh và châu Phi không còn là vùng “cấm địa“ của Mỹ và Phương Tây. Trung Quốc không những có mặt ở hai lục địa này mà còn tranh chấp giành hợp đồng mua bán dầu. Trong chiến lược này, châu Phi và các nước Trung Á được Bắc Kinh đặc biệt quan tâm. Để thực hiện chiến lược này, Trung Quốc cho thành lập 3 tập đoàn quốc gia chuyên trách về dầu khí. Các tập đoàn này có nhiệm vụ mua, tham gia cổ phần và khai thác các giếng dầu khí trong và ngoài nước. Ba tập đoàn có tên như sau: - Tập đoàn Dầu hoả Quốc gia (China National Petroleum Corporation) gọi tắt là CNPC, Petrochina là chi ngánh của CNPC, - Tập đoàn Dầu khí Hải ngoại Quốc gia của Trung Quốc (China National Oil Offshore Company) gọi tắc là CNOOC, - Tập đoàn Dầu khí và Hoá chất Trung Quốc (China Petroleum and Chemical Corporation) gọi tắt là SINOPEC. 2. Tìm nguồn năng lượng mới trong nước Song song với chiến lược ngoại giao toàn cầu, Trung Quốc còn có chiến lược tìm nguồn năng lượng mới nội địa, đặc biệt là nguồn năng lượng thay thế như thuỷ điện, mặt trời, gió, sinh khối (Biomass) v.v... để thay thế một phần dầu và than. Hai đạo luật vừa được Quốc hội cho ban hành vào đầu năm 2006. Đó là Đạo luật giảm thuế cho các công ty tiết kiệm năng lượng và Đạo luật về nguồn năng lượng thay thế. Trong chiến lược này, Trung Quốc dự định sẽ đầu tư 180 tỷ USD trong 15 năm tới để nâng nguồn năng lượng thay thế từ 7% lên 15% trong tiêu dùng. Trong lĩnh vực này, các nước Bắc Âu đã đi khá xa như Thuỵ Điển đã có 27,8%, Phần Lan 21,3%, áo 21%. Muốn hiểu rõ lý do, chúng ta hãy khảo sát tình trạng năng lượng của Trung Quốc hiện nay. Than đá Trong những năm gần đây, năng lượng tiêu dùng của Trung Quốc gồm có 67-70 % than đá, 23% dầu, 2,8% khí đốt và 7,4% thuỷ điện. Than đá là nguồn năng lượng tiêu dùng ở mức còn quá cao, gấp 3,5 lần so với bình quân thế giới, vì lẽ Trung Quốc là nước sản xuất và xuất khẩu hàng đầu thế giới. Với nguồn dự trữ 115 tỷ tấn, Trung Quốc sản xuất hơn 2 tỷ tấn năm 2005 so với 1 tỷ tấn năm 2000. Nhưng sử dụng than đá làm năng lượng đã trở thành một vấn đề lớn về môi sinh và xã hội. Theo một tài liệu nghiên cứu gần đây của trường Đại học Thanh Hoa ở Bắc Kinh, 63,3% của 338 thành phố Trung Quốc bị ô nhiễm ở mức trung bình và nặng do chất dioxyde của than đá thải ra. Số lượng của chất dioxyde này tăng gần gấp đôi trong năm 2005 so với 2002 (từ 6,6 triệu tấn lên 12,86 triệu tấn). Sản xuất than đá của Trung Quốc chiếm 1/3 sản lượng thế giới, nhưng mức độ ô nhiễm chiếm đến 3/4. Về các mỏ than, Trung Quốc có 28.000 mỏ, trong đó có 20.000 mỏ tư nhân và sử dụng 3 triệu nhân công. Trong năm 2005, tai nạn ở các mỏ than làm 6.000 người chết (The Christian Science Monitor 27/1/2006). Trong năm 2005, Chính phủ bắt buộc phải đóng cửa 2.400 mỏ và ra lệnh đóng cửa 13.000 mỏ khác (Xinhua 26/12/2005). Trước tình trạng đó, Chính phủ Trung Quốc dự trù giảm dùng 10% than đá từ nay cho đến năm 2015 và cấm xây dựng các nhà máy điện dùng than đá. Ngược lại, họ khuyến khích xây các nhà máy chuyển than đá thành khí đốt (Coal to Oil). Một nhà máy đầu tiên sẽ được xây ở Nội Mông với chi phí 2,96 tỷ USD tương đương với 24,5 tỷ NDT. Dầu mỏ Từ 1995 đến 2005, tiêu dùng dầu của Trung Quốc tăng 92,5% (310 triệu tấn so với 161 triệu tấn), trong khi sản xuất chỉ tăng 16,7%. Hậu quả là nhập khẩu dầu của Trung Quốc tăng 11,5 lần, từ 11 triệu tấn năm 1995 lên 127 tấn năm 2005. Trung Quốc là nước tiêu thụ dầu nhiều thứ 2 trên thế giới sau Mỹ. Tăng trưởng tiêu thụ dầu ngoài lý do sản xuất còn thêm lý do phung phí. Chẳng hạn, muốn sản xuất 1 đơn vị GDP, Trung Quốc phải tiêu dùng 4-5 lần năng lượng nhiều hơn châu Âu, trong khi xe hơi do Trung Quốc chế tạo đốt dầu từ 20-30% nhiều hơn xe Phương Tây(Le Monde 8/9/05). Hiện nay Trung Quốc nhập 50% dầu từ vùng Trung Đông, trong đó 15-17% từ ả–Rập Xê-út, 13% từ Iran, 7% từ Sudan. Phần còn lại từ các nước Bắc Phi (Algeria, Libye), châu Phi (Nigeria, Angola, Guinée-Equatoriale, Gabon, Congo-Brazzaville v.v...), Nga và các nước Trung Á.... Trung Quốc với khối lượng nhập 130 triệu tấn hiện nay, phụ thuộc vào 42-45% nguồn dầu hoả từ bên ngoài và con số này sẽ lên đến 60% trong năm 2020. Theo các chuyên gia, Trung Quốc sẽ nhập 300 triệu tấn dầu trong số 500 triệu tấn năng lượng vào năm 2020 (Xinhua 14/10/2005). Khí đốt Tỷ trọng khí đốt trong tiêu dùng năng lượng của Trung Quốc hiện nay chỉ chiếm 2,8% so với 21% ở các nước khác. Trung Quốc dự trù sẽ tăng tỷ lệ này lên 10% trong 15 năm tới. Một ống dẫn khí đốt dài 4000 km từ Tân Cương về Thượng Hải đi qua 8 tỉnh được xây dựng trong năm 2004. ống dẫn khí đốt này có thể chuyển tải 12 tỷ m3. Trung Quốc dự trù tăng sản xuất khí đốt lên 90-100 tỷ vào năm 2010 và 150-170 tỷ m3 vào năm 2020 nhờ khai thác tìm nguồn dự trữ từ 400 đến 500 tỷ m3/năm . Để đáp ứng nhu cầu trong tương lai, Trung Quốc đã bắt đầu cho xây cất 4 ống dẫn khác để tiếp nhận khí đốt hoá lỏng từ Ôxtrâylia. Ba ống do CNOOC đảm trách xây cất ở Quảng Đông, Chiết Giang và Phúc Kiến, ống thứ tư do SINOPEC ở Sơn Đông. Petrochina của CNPC vừa ký ngày 2/3/06 một hợp đồng hợp tác với Tập đoàn dầu khí Total của Pháp để khai thác khí đốt ở lưu vực Ordos, phía Bắc giữa Thiểm Tây và Bắc Kinh. Lưu vực này có nguồn dự trữ lên đến 100 tỷ m3 . Điện lực Điện lực là một nguồn năng lượng cần thiết cho tiêu dùng và sản xuất công nghiệp. Về phương diện này, Trung Quốc còn yếu kém. Để bù đắp sự thiếu hụt về điện lực, nhà nước Trung Quốc dành một khoản kinh phí lớn để đầu tư vào khu vực này trong nhiều lãnh vực. Kế hoạch 5 năm lần thứ X (2001-2005) dự trù tăng điện lực từ 1 % lên 4% vào năm 2020, tương đương với sản xuất bổ sung mỗi năm 36 triệu kW. Năm 2005, Trung Quốc có tổng công suất điện là 510 triệu kW tăng 15% so với 2004. Nhu cầu mỗi ngày càng tăng cao nhưng sản xuất chưa đáp ứng, mặc dù Trung Quốc đã đầu tư mạnh trong lĩnh vực này. Hiện nay cả nước còn thiếu từ 20 đến 30 triệu kW điện, đặc biệt là ở 3 tỉnh có nền sản xuất công nghiệp cao, như Thượng Hải, Giang Tô và Chiết Giang, trung bình có 11 ngày trong tháng không có điện, 8.000 xí nghiệp phải chia nhau nghỉ việc. Tình trạng thiếu điện này làm ngành công nghiệp thiệt hại nhiều trăm tỷ NDT (Pékin–Info số 5/2005). Về thuỷ lợi, Đập khổng lồ Tam Hiệp (The Three Gorges) được xây cất với nhiều chục tỷ USD trên sông Trường Giang dự trù hoàn thành vào năm 2009 sẽ có công suất thiết bị 18,2 triệu kW (Xinhua 14/2/06). Mùa Hè sắp tới, đập này bắt đầu cung ứng khoảng 2,8 triệu kW, một con số còn rất thấp. Về điện hạt nhân, Trung Quốc cũng có nhiều cố gắng đáng kể với sự hợp tác của nước ngoài, đặc biệt với Pháp và Canađa. Tập đoàn Năng lượng Hạt nhân Quảng Đông (China Guangdong Power), thành lập năm 1994, hiện nay kiểm soát 4 nhà máy điện hạt nhân với sự hợp tác của Pháp: 2 nhà máy ở Lingao và 2 nhà máy ở bãi Daya thuộc tỉnh Quảng Đông. Bốn nhà máy này có năng suất 4 triệu kW/năm. Một nhà máy hạt nhân khác do tập đoàn nói trên kiểm soát sẽ được xây dựng ở Thiều Quan (Shaoguan) cũng thuộc tỉnh Quảng Đông với vốn đầu tư 100 tỷ NDT (12,5 tỷ USD). Nhà máy này sẽ có năng suất 4 triệu kW vào lúc ban đầu và dự trù tăng lên 20 triệu kW vào năm 2020 (Xinhua 16/2/06). Ngoài ra, còn một số nhà máy nhỏ khác đang được thiết lập ở Chiết Giang, Giang Tô và Sơn Đông.. Năng lượng gió Theo ước lượng, Trung Quốc có nguồn dự trữ về gió ngoài 3 tỷ kW nhưng chưa được khai thác đúng mức. Trong năm 2004, Trung Quốc chỉ xây cất được 43 cột có công suất 760.000 KW, chiếm 0,025 % nguồn dự trữ. Như vậy, Trung Quốc có một chiến lược dài hạn về việc tìm năng lượng mới trong và ngoài nước để đáp ứng cho sự phát triển kinh tế của họ. Ông David Yergin, Chủ tịch Viện Nghiên cứu Năng lượng của Cambridge, đã nói trong thập kỷ 30 rằng: "Dầu hoả chỉ biểu trưng cho 10% trong lãnh vực kinh tế, nhưng lại chiếm 90% trong lĩnh vực chính trị”. Câu nói này dù cách đây hơn 70 năm, nhưng đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Nguồn: Global Review, 5/2006 |
||
