Tìm kiếm nâng cao

Số truy cập:
Home » Cơ sở dữ liệu toàn văn » Ấn phẩm điện tử » Tri thức và phát triển » 2006 » Số 25 » HỘI NHẬP VÀ PHÁT TRIỂN: » Hội nhập WTO: Năng lực cạnh tranh của 8 ngành cơ khí trọng điểm

Hội nhập WTO: Năng lực cạnh tranh của 8 ngành cơ khí trọng điểm

  
Dạng tài liệu : Bài trích bản tin
Ngôn ngữ tài liệu : vie
Tên nguồn trích : Tri thức và phát triển
Dữ liệu nguồn trích : 2006/Số 25/HỘI NHẬP VÀ PHÁT TRIỂN:
Đề mục : 06.91 Kinh tế từng nước
Từ khoá : Hội nhập WTO
Nội dung:
Ngành thiết bị: Cần phân bổ việc chế tạo tại chỗ
Cơ hội của ngành này là thị trường rộng lớn trong nước, khu vực và quốc tế. Chúng ta sẽ tiến từ đầu tư sản xuất cấu kiện, phi tiêu chuẩn đến sản xuất các thiết bị công nghệ chính. Tại Hội nghị Nhóm tư vấn các nhà tài trợ cho Việt Nam vừa qua, Phó Thủ tướng Vũ Khoan cho biết: “5 năm tới Việt Nam cần 140 tỷ USD để đầu tư phát triển bền vững”. Như vậy, bình quân mỗi năm đầu tư 28 tỷ USD. Phỏng đoán rằng 30% dành phát triển công nghiệp thì có 9 tỷ USD, trong đó 30% là đầu tư thiết bị. Nếu ngành sản xuất thiết bị phấn đấu cung cấp được 30% thì đã có được 1 tỷ USD. Nhưng để sản xuất được 1 tỷ USD thì chúng ta cũng cần phải có ít nhất 1 tỷ USD vốn lưu động (quay vốn một vòng cho các sản phẩm cơ khí), chưa kể vốn đầu tư chiều sâu nâng cấp công nghệ và thiết bị. Đây là thách thức lớn cho ngành sản xuất thiết bị công nghiệp vì cần vốn lưu động lớn.
Thách thức đặc trưng của ngành này là chế độ đấu thầu. Nếu như chế độ đấu thầu hiện nay không được sửa đổi kịp thời, sẽ gây khó khăn cho các nhà sản xuất trong nước trước sự cạnh tranh của doanh nghiệp (DN) Trung Quốc, Ấn Độ. Vì vậy cần nhanh chóng thành lập Hiệp hội các DN sản xuất thiết bị công nghiệp để có thể đứng ra đàm phán với các nhà cung cấp EU, Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ, Nga về việc phân bổ chế tạo tại chỗ các danh mục thiết bị ta có thể sản xuất được. Đồng thời, Hiệp hội có thể đại diện tham gia đấu thầu chung cho các thành viên của mình, tránh được sự cạnh tranh hỗn loạn dễ bị ép giá.
Ngành đóng mới và sửa chữa tàu biển: Nắm thời cơ chuyển giao sang các nước thứ 3
Nhu cầu đóng mới các loại tàu biển trọng tải lớn đang có xu hướng ngày càng tăng. Các nước đóng tàu tiên tiến sẽ tập trung đóng các tàu chở dầu trên 200.000 tấn, tàu du lịch sang trọng, tàu container có sức chứa trên 5.000 container… Các đơn hàng đóng tàu vận tải thông thường, tàu chở dầu vừa và nhỏ, tàu chở khách nhỏ, các dàn khoan biển… sẽ được chuyển giao cho các nước thứ ba. Việt Nam hiện xếp thứ 11 trên thế giới về năng lực đóng tàu, trong ASEAN chúng ta không có đối thủ cạnh tranh. Tổng Công ty Tàu thủy Việt Nam (Vinashin) đang nắm lấy thời cơ này.
Thách thức lớn của ngành này là thiếu cơ sở cung cấp nguyên liệu tại chỗ trong khi 70% giá trị con tàu là nguyên vật liệu. Đồng thời ngành này cũng cần vốn lưu động rất lớn. Tuy vừa qua Chính phủ đã cho phép ban hành trái phiếu quốc tế 750 triệu USD nhưng ngay cả khoản vốn huy động này cũng chỉ đóng góp được một phần nhu cầu vốn lưu động của ngành đóng tàu, vì Vinashin đã ký được các hợp đồng đến năm 2009 với tổng trị giá 1 tỷ USD và dự kiến đến năm 2010 cần trên 500 triệu USD nữa.
Ngành lắp ráp, chế tạo phụ tùng, linh kiện ô tô: Cơ hội lớn từ thị trường trong nước
Cơ hội của ngành này là thị trường tiềm năng trong nước. Hiện nay, trên thế giới trung bình 10 người có 1 xe ô tô, dự báo đến năm 2020 khu vực châu Á sẽ có 360 triệu ô tô trong tổng số 1.300 triệu ô tô của thế giới. Nếu Việt Nam đạt đến độ trung bình của thế giới thôi thì trong nước sẽ có ít nhất 8 triệu xe ô tô, gấp 13 lần số xe hiện đang sử dụng. Tuy nhiên, 65% số xe đang sử dụng ở Việt Nam là xe thương dụng (xe buýt, xe tải), chỉ có 35% là xe du lịch. Tỷ lệ này nghịch với thực tế trên thế giới với 70% là xe du lịch và 30% là xe thương dụng. Thông thường một nước có số lượng xe sử dụng là 8 triệu chiếc thì hàng năm cần 800.000 chiếc để thay thế xe cũ. Một thị trường có nhu cầu gần 1 triệu xe/năm là khá lớn, tạo điều kiện cho công nghiệp chế tạo ô tô phát triển, kéo theo hàng loạt các ngành công nghiệp phụ trợ.
Tuy nhiên, ngành này phải vượt qua nhiều thách thức để vươn tới thị trường tiềm năng ấy. Thách thức lớn nhất là kết cấu hạ tầng yếu kém của Việt Nam khó lòng đáp ứng lưu thông phương tiện cũng như giao thông tĩnh (gara, bãi đỗ xe…). Thách thức thứ 2 là cơ hội hợp tác với các hãng chế tạo ô tô lớn bị hạn chế bởi hiện nay nhiều hãng lớn đã chọn Thái Lan để tập trung đầu tư phát triển công nghiệp ô tô với trọng tâm là xe du lịch và xe bán tải. Như vậy, để làm xe du lịch chúng ta chỉ còn cơ hội hợp tác với một số hãng lớn chưa đầu tư vào Thái Lan như Volkswagen, Renault… Nhất thời có thể một số DN Việt Nam sẽ hợp tác với các hãng xe du lịch nổi tiếng ở Trung Quốc để sản xuất xe giá rẻ, nhưng khi lộ trình cắt giảm thuế và các rào cản phi thuế quan theo cam kết với WTO được hoàn tất, thì khả năng tồn tại của các mác xe Trung Quốc sẽ rất khó khăn. Với xu thế hội nhập kinh tế, cơ hội để lựa chọn công nghệ phù hợp rất phong phú, nhưng để chọn được công nghệ và sản phẩm phù hợp, chúng ta cần có năng lực tư vấn và thiết kế đủ mạnh.
Các ngành máy động lực - máy nông nghiệp -máy công cụ: Xu hướng chế tạo máy nhẹ hơn, công suất lớn hơn
Với tiến bộ khoa học, xu hướng hiện nay là chế tạo những máy động lực nhẹ hơn, công suất lớn hơn và hiệu suất sử dụng nhiên liệu cao hơn. Thách thức hiện nay của ngành máy động lực, ngành máy nông nghiệp là các loại máy đã qua sử dụng, máy nhái, máy kém chất lượng.
Việt Nam là nước duy nhất trong ASEAN có ngành chế tạo máy công cụ. Cơ hội cho ngành là xu thế đổi mới trang bị và đầu tư mới máy công cụ của các nhà máy cơ khí. Tuy nhiên, đối với máy vạn năng, xu thế bao trùm là dùng máy đã qua sử dụng của nước ngoài. Vì vậy, thị trường tiềm năng phụ thuộc vào sự phát triển của ngành ô tô, động lực, động cơ điện, chế tạo khuôn mẫu cho ngành nhựa, đúc áp lực kim loại.
Các ngành máy và thiết bị kỹ thuật điện - máy thi công xây dựng
Thị trường trong nước đối với các ngành này có tiềm năng rất lớn. Tất cả các nhà máy và thiết bị công nghiệp đều sử dụng mô tơ điện làm động cơ. Riêng ngành điện, hàng năm, 40% vốn đầu tư toàn ngành phục vụ cho phát triển truyền tải và phân phối điện. Đối với ngành máy thi công xây dựng công trình, nhiều công trình công nghiệp kết cấu hạ tầng đang được đầu tư là cơ hội để phát triển.
Môi trường kinh doanh và sản xuất cho các doanh nghiệp cơ khí thuộc 8 ngành cơ khí trọng điểm của Việt Nam sau gia nhập WTO sẽ có nhiều thách thức. Xưa nay, các nhà cơ khí thường hay trách móc là “làm được, nhưng không được làm”. Hy vọng khi bước vào thời kỳ hậu WTO, ngành cơ khí sẽ “làm nên những cái làm được”, chứng minh vai trò tất yếu của ngành trong một đất nước công nghiệp phát triển sau này.
(Công nghiệp Việt Nam, 17-23/5/2006)
****************
 
Trung tâm Thông tin Khoa học Công nghệ Quốc gia