Tìm kiếm nâng cao

Số truy cập:
Home » Cơ sở dữ liệu toàn văn » Ấn phẩm điện tử » Tri thức và phát triển » 2006 » Số 22 » XU THẾ, DỰ BÁO, CHIẾN LƯỢC, CHÍNH SÁCH: » Chiến lược đa dạng hóa các nguồn cung ứng năng lượng

Chiến lược đa dạng hóa các nguồn cung ứng năng lượng

  
Dạng tài liệu : Bài trích bản tin
Ngôn ngữ tài liệu : vie
Tên nguồn trích : Tri thức và phát triển
Dữ liệu nguồn trích : 2006/Số 22/XU THẾ, DỰ BÁO, CHIẾN LƯỢC, CHÍNH SÁCH:
Đề mục : 06.75 Quản lý kinh tế
Từ khoá : Chiến lược Đa dạng hóa Năng lượng
Nội dung:
Tại Hội nghị Tài chính quốc tế do báo Thời báo Tài chính Anh vừa tổ chức ở Seoul (Hàn Quốc), các nhà kinh tế thế giới nhấn mạnh sự trỗi dậy về kinh tế của châu Á. Với sự phát triển mạnh mẽ này, châu Á hiện tiêu thụ 1/4 lượng dầu mỏ của thế giới. Phát triển năng lượng sạch và đa dạng hoá các nguồn cung ứng năng lượng đang là hướng đi tất yếu của các nước châu Á.
Chương trình Môi trường của Liên Hợp Quốc (LHQ) (UNEP) đã đánh giá cao định hướng đa dạng hoá năng lượng đang nổi lên ở nhiều nước châu Á thông qua việc phát triển và tăng cường sử dụng các nguồn năng lượng tái sinh.
Trung Quốc đang dẫn đầu châu Á và thế giới về đầu tư phát triển các nguồn năng lượng này, với mục tiêu đưa tỷ lệ năng lượng tái sinh chiếm 10% tổng nguồn cung năng lượng vào năm 2010. Hơn 30 triệu người Trung Quốc hiện nay đang sử dụng xe ô tô chạy bằng nhiên liệu sinh học trong nước.
Ấn Độ đang dẫn đầu thế giới về năng lượng gió, còn Philippin cũng đã có những Chương trình phát triển chiến lược về năng lượng tái sinh, sử dụng phế liệu của ngành mía đường để sản xuất năng lượng.
Theo Báo cáo của Tổ chức Nông Lương LHQ (FAO), nhiều loại cây như cọ, mía, dừa... đang được các nước châu Á thử nghiệm dùng sản xuất nhiên liệu sinh học thay thế các nguồn nhiên liệu hoá thạch, dầu mỏ. Hiện nhiên liệu sinh học mới chiếm 1% nhu cầu nhiên liệu của châu Á, nhưng tỷ lệ này có triển vọng sẽ tăng nhanh trong thời gian tới.
Ấn Độ hiện đã quy hoạch 39,2 triệu ha trồng cây Tragiopha để có thể sản xuất nhiên liệu thay thế 20% nhu cầu dầu diesel trong vòng 5 năm tới. Inđônêxia và Phillipin đã thu hút hơn 20 triệu USD vốn đầu tư nước ngoài để trồng các loại cây cung cấp nhiên liệu sinh học. Trong khi đó, Thái Lan khẳng định, sử dụng hoàn toàn nhiên liệu sinh học là mục tiêu của nước này trong vài thập kỷ tới.
Còn Malaixia, nước sản xuất dầu cọ lớn nhất thế giới đã xây dựng 10 nhà máy sản xuất diesel sinh học từ dầu cọ để xuất khẩu. Theo UNEP, nhiên liệu diesel sinh học có thể giúp làm giảm tới 78% lượng khí thải điôxít cácbon.
UNEP nhấn mạnh các nguồn năng lượng tái sinh và năng lượng sạch đang giúp châu Á giải quyết mức độ ô nhiễm nặng về không khí, đồng thời chính định hướng phát triển các nguồn năng lượng nói trên đã tạo ra môi trường thuận lợi hấp dẫn các nhà đầu tư quốc tế phát triển các dự án năng lượng tại châu Á.
Các tổ chức tài chính quốc tế và các công ty năng lượng của các nước phát triển đã tăng và giải ngân tài chính cho nhiều dự án phát triển năng lượng tái sinh ở châu lục này, đặc biệt ở các vùng nông thôn.
Tuy nhiên, các chuyên gia năng lượng quốc tế nhấn mạnh bên cạnh việc thúc đẩy phát triển và sử dụng những nguồn năng lượng tái sinh, các nước châu Á cần nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng, vì ít nhất 30% nhu cầu năng lượng trong tương lai có thể được nhờ các biện pháp tiết kiệm và bảo tồn năng lượng.
Hàn Quốc là nước châu Á đi tiên phong trong việc thực hiện quốc sách tiết kiệm năng lượng. Trước diễn biến tình hình giá dầu trên thị trường thế giới tiếp tục tăng mạnh, Bộ Thương mại Hàn Quốc tuyên bố sẽ đưa ra các biện pháp khuyến khích các doanh nghiệp và người dân giảm tiêu thụ xăng dầu, trong đó có biện pháp áp dụng chế tài buộc người dân hạn chế sử dụng ô-tô. Các chuyên gia kinh tế cho rằng, giá dầu tăng sẽ tác động tiêu cực đến nền kinh tế Hàn Quốc vốn dựa khá nhiều về nhiên liệu nhập khẩu.
Theo Viện Kinh tế Năng lượng Hàn Quốc, tốc độ tăng trưởng kinh tế của nước này sẽ giảm 0,37% nếu giá dầu trong năm nay tiếp tục giữ ở mức cao.
Nhật Bản đang tích cực xúc tiến các biện pháp nhằm đảm bảo an ninh năng lượng cho mình, thông qua xây dựng một chiến lược năng lượng mới.
Nhật Bản là một nước công nghiệp phát triển và có mức tiêu thụ dầu khí lớn, đứng hàng thứ ba trên thế giới, sau Mỹ và Trung Quốc. Với số dân 123 triệu người, Nhật Bản gần như dựa hoàn toàn vào dầu nhập khẩu trong đó 90% là từ Trung Đông, một khu vực thiếu an ninh nhất trên bản đồ chính trị toàn cầu.
Theo tin từ Bộ Thương mại và Công nghiệp Nhật Bản (METI), mục tiêu của phương hướng chiến lược mới về năng lượng được đề ra trong đề cương dự thảo sẽ đệ trình Chính phủ thông qua vào tháng 6/2006 sẽ là giảm sự phụ thuộc của nền kinh tế vào dầu xuống 40% hoặc thấp hơn vào năm 2030 từ mức 50% hiện nay.
Để đạt được mục tiêu này Nhật Bản tiếp tục thực thi chính sách tiết kiệm năng lượng, đổi mới công nghệ sử dụng ít năng lượng, tăng cường các hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí ở nước ngoài, đẩy mạnh tìm kiếm, thăm dò, khai thác các nguồn khí đốt trong nước nhất là khí hydrat, thúc đẩy phát triển năng lượng hạt nhân, nghiên cứu sử dụng các nguồn năng lượng tái tạo được, đặc biệt là năng lượng mặt trời, sức gió, hải lưu và thủy triều.
Điều đáng chú ý trong chiến lược nói trên chính là ở chỗ Nhật Bản quay lại chương trình điện hạt nhân của mình sau một thời gian dài sao nhãng do những sự cố kỹ thuật và sự không đồng thuận của dư luận xã hội. Chiến lược này đặt mục tiêu tăng tỷ lệ điện sản xuất từ năng lượng hạt nhân trong tổng nguồn cung điện quốc gia từ mức hiện nay là 30% lên khoảng 40% hoặc cao hơn vào năm 2030 đồng thời thiết lập một chu kỳ nhiên liệu hạt nhân.
Tầm nhìn xa của Nhật Bản được thể hiện rõ nhất trong việc đi đầu nghiên cứu hydrat như một nguồn nhiên liệu trong tương lai xa. Hydrat là loại hỗn hợp giữa khí methan và nước, tồn tại dưới dạng tinh thể ở các vùng đất đóng băng hoặc ở đáy biển sâu. Các nhà khoa học dự báo tổng trữ lượng khí hydrat còn lớn hơn cả khí đốt truyền thống nhưng hiện nay công nghệ khai thác chưa được hoàn chỉnh cũng như giá thành quá cao làm cho chúng chưa trở thành một nhiên liệu thương mại.
Trung Quốc đang tích cực tìm kiếm nguồn dầu mỏ của châu Phi. Riêng số dầu nhập từ châu Phi đã đáp ứng được 1/3 nhu cầu năng lượng của Trung Quốc. Năm 2005, Trung Quốc đã đầu tư vào lĩnh vực khai thác dầu khí ở Angola 3 tỷ USD và ở Nigeria 2,27 tỷ USD, chủ yếu tập trung vào thăm dò và khai thác dầu khí ở ngoài khơi, thuộc vùng nước sâu. Với khoản tiền đầu tư của Trung Quốc, Angola hy vọng sẽ nhanh chóng tăng sản lượng dầu khí 1,25 triệu thùng/ngày năm 2005 lên 2 triệu thùng/ngày vào năm 2008.
Trong chuyến thăm Mỹ Nigeria vừa qua của Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào, Trung Quốc đã ký với nước này thoả thuận tham gia khai thác dầu mỏ trị giá 4 tỷ USD.
Trước đó, khi ông Hồ Cẩm Đào thăm Kenia. Tổ hợp Dầu khí Quốc gia CNOOC của Trung Quốc cũng đã giành được quyền thăm dò 6 lô dầu trên diện tích hơn 115 nghìn km2 ở ngoài khơi Kenia. Trung Quốc cũng vừa thoả thuận đầu tư 5 tỷ USD đầu tư kho chứa dầu tại Myanmar, sau đó chuyển về lọc dầu tại Vân Nam
Sản xuất điện bằng sức gió (điện gió) bắt đầu được thế giới để ý đến từ 25 năm trước, nhưng chỉ trong gần 10 năm trở lại đây nó mới khẳng định được vị trí trên thị trường năng lượng thế giới khi sản lượng điện gió tăng trưởng một cách ngoạn mục với tốc độ 28%/năm, cao nhất trong tất cả các nguồn năng lượng hiện có. Sự phát triển thần kỳ này của điện gió có được là nhờ vào một số thay đổi quan trọng trong thời gian qua, đầu tiên phải kể đến những tiến bộ về công nghệ có tính đột phá đã giúp giảm giá thành điện gió xuống nhiều lần, đồng thời tăng công suất, hiệu quả và độ tin cậy của các trạm điện gió. Một điều đáng lưu ý là không chỉ các nước đã phát triển mà cả một số nước đang phát triển (đặc biệt là những nước đông dân như Ấn Độ và Trung Quốc) cũng quyết định đầu tư để phát triển điện gió.
Ấn Độ
Ấn Độ là một trong hai nước đang phát triển nằm trong 10 nước dẫn đầu về công suất điện gió (nước còn lại là Trung Quốc). Năm 2004, công suất điện gió tăng thêm của Ấn Độ đứng thứ ba trên thế giới, chỉ sau Đức, Tây Ban Nha, đứng trên cả Anh và Mỹ. Các nỗ lực này đã đưa Ấn Độ vươn lên hàng thứ 5 trên thế giới về công suất điện gió
Tính đến tháng 3/2005, công suất điện gió của Ấn Độ đạt mức 3.595 MW và chỉ riêng trong năm 2004 Ấn Độ đã lắp đặt mới được 1.112 MW, đạt mức tăng trưởng 45%. Nếu lấy năm 2000 làm mốc, khi Ấn Độ mới chỉ có 1.220 MW điện gió, thì chỉ sau 5 năm, công suất điện gió của Ấn Độ đã tăng lên 3 lần.
Năm 1980 đánh dấu bước khởi đầu của chiến lược phát triển năng lượng gió của Ấn Độ khi Cơ quan Nguồn năng lượng (sau chuyển thành Bộ Năng lượng) của nước này được thành lập nhằm mục đích đa dạng hóa nguồn năng lượng để phục vụ cho sự phát triển nhanh của nền kinh tế . Cơ quan này đã tiến hành nghiên cứu, xác định, và triển khai các dự án năng lượng gió và sau đó đưa vào kinh doanh. Chính phủ Ấn Độ cũng đã ban hành một số chính sách ưu đãi để hỗ trợ cho dự án. Các công ty công nghiệp và thương mại, đặc biệt là các công ty tư nhân, đã tận dụng những ưu đãi này của nhà nước để tiến hành đầu tư một cách mạnh mẽ. Kết quả là các công ty này (trong đó 97% là các công ty tư nhân) đã tự sản xuất được các bộ phát điện, và hơn thế, một số nhà sản xuất đã có thể bắt đầu xuất khẩu sản phẩm của mình.
Trung Quốc
Với một bờ biển dài, Trung Quốc là một quốc gia có nhiều tiềm năng về năng lượng gió. Dự án điện gió thử nghiệm đầu tiên của Trung Quốc được bắt đầu từ năm 1986. Trong 20 năm qua, tận dụng các khoản viện trợ nước ngoài và các khoản vay lãi suất thấp, Trung Quốc đã phát triển thêm nhiều khu điện gió, hòa mạng vào lưới điện quốc gia. Năm 1994, Bộ trưởng Bộ Năng lượng Điện đã ra quyết định đẩy mạnh phát triển năng lượng gió - một quyết định hết sức khó khăn. Lý do là vì vào thời điểm đó, năng lượng gió trên thế giới vẫn chưa phát triển, đồng thời nhiệt điện than khá rẻ và vẫn còn tương đối dồi dào. Hiểu được điểm yếu này của điện gió so với các nguồn năng lượng truyền thống khác, Bộ Năng lượng của Trung Quốc đã định hướng phát triển điện gió thông qua việc giảm giá thành bằng cách phát triển những dự án quy mô lớn, đồng thời địa phương hóa các nhà máy sản xuất tuốc-bin gió. Với chính sách đúng đắn đó, thị trường điện gió ở Trung Quốc được hình thành và đến cuối năm 2004 Trung Quốc đã có 43 khu điện gió với tổng công suất là 850 MW. Trong năm 2005, có thêm 450 MW điện gió. Chính phủ Trung Quốc đặt mục tiêu đến năm 2020, công suất điện gió của nước này sẽ tăng lên tới 20.000 MW, tức là gấp 20 lần so với hiện nay.
Philippin
Trong thập kỷ tới, Philippin có triển vọng trở thành quốc gia dẫn đầu về năng lượng gió trong khu vực Đông Nam Á. Một sự hợp tác chặt chẽ giữa Chính phủ và tư nhân được xác lập với mục tiêu đạt công suất tối thiểu là 417 MW điện gió trong vòng 10 năm tới. Dựa vào những nghiên cứu của phòng thí nghiệm quốc gia về năng lượng tái tạo, Philippin quy hoạch một khu vực được đánh giá là rất tốt để phát triển năng lượng gió với diện tích lên tới 10.000 km2. Theo tính toán, tiềm năng về công suất gió của khu vực này lên tới hơn 70.000 MW, có thể cung cấp khoảng 195 tỷ kWh mỗi năm.
Nguồn: World Watch, 5/2006

 
Trung tâm Thông tin Khoa học Công nghệ Quốc gia