Thành công của Trung Quốc tác động đến các nước khác |
||
| Dạng tài liệu | : | Bài trích bản tin |
| Ngôn ngữ tài liệu | : | vie |
| Tên nguồn trích | : | Tri thức và phát triển |
| Dữ liệu nguồn trích | : | 2006/Số 21/HỘI NHẬP VÀ PHÁT TRIỂN: |
| Đề mục | : | 06.91 Kinh tế từng nước |
| Từ khoá | : | Trung Quốc |
| Nội dung: | ||
|
Đối với các nước đang phát triển, sự tăng trưởng ngoạn mục của nền kinh tế Trung Quốc là một sự khuyến khích có hai mặt (mixed). Trong khi thực sự là các nước xuất khẩu hàng hóa được hưởng lợi do nhu cầu của Trung Quốc gia tăng, quá trình công nghiệp hóa trở nên khó khăn hơn khi có sự cạnh tranh gay gắt của nước Cộng hòa Nhân dân này. Hiện tượng kỳ diệu của Trung Quốc cũng có những tác động đến sự phân bố thu nhập trong các nước và không nhất thiết đóng góp vào giảm nghèo ở những nơi khác.
Tăng trưởng nhanh và chính sách mở cửa của Trung Quốc trong một phần tư thế kỷ qua đã làm Trung Quốc trở thành nước có vai trò chủ chốt trong nền kinh tế toàn cầu trong đầu thế kỷ XXI. GDP tăng trưởng với tốc độ hơn 9%/năm kể từ năm 1980 làm Trung Quốc trở thành nền kinh tế lớn thứ 6 trên thế giới theo tỷ giá trao đổi trên thị trường (Market Exchange Rate). Người ta đã dự đoán Trung Quốc sẽ trở thành nền kinh tế lớn thứ 3, vượt Đức trong vòng 5 năm tới và sẽ thay thế Nhật bản ở vị trí thứ 2 trong một thập niên nữa. Các cải cách kinh tế diễn ra ở Trung Quốc từ cuối những năm 1970 đã dẫn đến Trung Quốc hội nhập mạnh hơn vào nền kinh tế toàn cầu. Thị phần của Trung Quốc trong thương mại thế giới đã tăng từ chưa đến 1% năm 1980 lên gần 6% năm 2003, làm Trung Quốc thành nền kinh tế thương mại lớn thứ 4 trên thế giới. Trong nhiều khía cạnh, sự tăng trưởng và hiệu quả xuất khẩu của Trung Quốc giống với của Nhật Bản và các nước châu Á khác ở những giai đoạn tương tự của sự phát triển của những nước này. Tuy nhiên, tầm cỡ của nền kinh tế của Trung Quốc có ý nghĩa là Trung Quốc có thể sẽ có tác động mạnh hơn nhiều đến nền kinh tế thế giới. Chuông báo động đã rung lên ở các nước phát triển như là kết quả của luồng ồ ạt hàng hóa giá rẻ của Trung Quốc sau khi nước này gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) năm 2001. Đặc biệt đáng báo động vì Thỏa thuận Multi-Fibre Agreement (MFA) đã kết thúc vào đầu năm 2005. Mỹ đã áp đặt các điều khoản hạn chế nhập khẩu một số hàng dệt và hàng may mặc từ Trung Quốc và hiện đang xem xét một thỏa thuận tổng quát hơn để kiểm soát sự tăng vọt hàng nhập khẩu Trung Quốc. Những nỗ lực của châu Âu hạn chế hàng nhập khẩu Trung Quốc đã gây ra sự hỗn độn khi hàng triệu hàng may mặc tồn đọng ở cảng do hạn ngạch vwojt quá trong vài tuần khi được nhất trí (of being agreed). Tăng trưởng nhanh của Trung Quốc cũng có những hậu quả môi trường toàn cầu. Ví dụ, tăng trưởng làm cho Trung Quốc trở thành nước phát thải cacbon đioxyt lớn thứ hai trên thế giới sau Mỹ. Sự phát triển trên toàn cầu của Trung Quốc cũng có ảnh hưởng lớn đến các nước đang phát triển khác. Ở những nước cách xa như Mêhicô, Banglađét và Lesotho, đã xuất hiện mối quan ngại về những hậu quả của sự cạnh tranh của Trung Quốc đối với hàng xuất khẩu của họ. Đồng thời, nhiều nước xuất khẩu hàng chủ chốt đang tìm các thị trường mới ở Trung Quốc và kết quả là được hưởng các điều khoản thương mại ưu đãi hơn. Ở khắp nơi, các nhà sản xuất trong nước đều thấy khó có thể cạnh tranh với hàng nhập khẩu giá rẻ của Trung Quốc. Sự tăng trưởng của Trung Quốc ảnh hưởng đến các nước đang phát triển khác theo 4 cách thức khác nhau: - Tăng trưởng hàng xuất khẩu của các nước đang phát triển vào Trung Quốc; - Cạnh tranh của Trung Quốc về hàng xuất khẩu của các nước đang phát triển vào các thị trường thứ ba; - Cạnh tranh của Trung Quốc ở thị trường trong nước của các nước đang phát triển; - Cạnh tranh về đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Tác động tổng thể mà sự tăng trưởng của Trung Quốc gây ra đến một nước đang phát triển phụ thuộc vào việc các động lực này tương tác thế nào với nước đó. Xuất khẩu vào Trung Quốc Sự bùng nổ của nền kinh tế và tăng cường mở cửa của Trung Quốc đã dẫn đến gia tăng mạnh nhập khẩu, hiện đạt tới khoảng 500 tỷ USD một năm, làm Trung Quốc trở thành thị trường lớn thứ 3 cho các nước xuất khẩu. Nhập khẩu của Trung Quốc từ các nước đang phát triển tăng hơn 8 lần từ 1990 đến 2003. Mặt hàng nhập khẩu là những hàng gì? Trước tiên là năng lượng và khoáng chất, cần để tiếp nhiên liệu cho khu vực công nghiệp Trung Quốc đang phát triển bùng nổ. Trung Quốc có ít tài nguyên. Tăng trưởng kinh tế vượt cung trong nước dẫn đến nhu cầu nhập khẩu cấp thiết. Khoáng chất và nhiên liệu chiếm hơn 2/3 hàng nhập khẩu của Trung Quốc từ châu Phi và hơn 1/3 hàng nhập khẩu của Trung Quốc từ Mỹ La tinh. Hiện nay, Trung Quốc là thị trường năng lượng quan trọng đối với các nhà xuất khẩu dầu mỏ châu Phi như Ăngôla và Xu đăng. Trung Quốc cũng vận hành các giếng dầu ở Vênêxuêla và mới đây đã ký thỏa thuận với Chính phủ nước này để khai thác dầu và khí thêm nữa. Trung Quốc đã tham gia vào tái trang bị các mỏ đồng của Dămbia và phát triển quan hệ khăng khít hơn với Dimbabuê, thể hiện mối quan tâm của Trung Quốc đối với nguồn tài nguyên khoáng chất ở nước này. Sự tăng trưởng của Trung Quốc dẫn đến gia tăng mức sống của nhân dân và nhu cầu tiêu dùng. Một biểu hiện là nhập khẩu nông sản gia tăng. Phương thức tiêu dùng thay đổi vì dân giàu hơn và đặc biệt là nhu cầu về thịt gia tăng. Tiêu thụ thịt ở Trung Quốc tăng trong những năm gần đây dẫn đến tăng vọt nhập khẩu thức ăn chăn nuôi như bột cá và bột đậu. Sự phát triển mạnh đậu tương ở Mỹ La tinh đã tìm thấy thị trường sẵn sàng ở Trung Quốc, năm ngoái chiếm hơn 1/3 sản lượng cây trồng của Braxin. Xuất khẩu bột cá sang Trung Quốc đã trở thành nguồn quan trọng đổi lấy ngoại tệ của Pêru. Sự bùng nổ xuất khẩu của Trung Quốc cũng góp phần gia tăng nhu cầu hàng nhập khẩu vì nhiều hoạt động xuất khẩu liên quan đến lắp ráp các chi tiết và linh kiện. Một số nước đang phát triển hơn ở châu Á do vậy đã trở thành nước xuất khẩu quan trọng hàng hóa chế tạo sang Trung Quốc. Đài Loan và Hàn Quốc là các nhà xuất khẩu lớn thứ ba và thứ tư sang Trung Quốc, tuy nhiên, một số nước ASEAN cũng sẽ được hưởng lợi từ tăng trưởng nhập khẩu của Trung Quốc. Cạnh tranh trong các thị trường thứ ba Các nước phát triển quan ngại về sự xâm nhập gia tăng vào các thị trường của họ bởi hàng nhập khẩu từ Trung Quốc. Thực tế, điều này thường là vấn đề đối với các nhà xuất khẩu của các nước đang phát triển hơn là nhà sản xuất ở các nước phát triển. Vấn đề dấy lên khi các nhà bán lẻ của Mỹ tranh luận chống lại hạn chế nhập khẩu hàng dệt và hàng may mặc từ Trung Quốc trên cơ sở là chúng chủ yếu gia tăng gây tổn hại đến hàng xuất khẩu của các nước khác vào Mỹ. Các nhà xuất khẩu khác này đối mặt với "cú đánh đôi" (Double Whammy) từ Trung Quốc, vì họ vừa mất thị phần ,vừa thu được lợi nhuận thấp hơn do sức ép giảm giá từ hàng hóa rẻ tiền của Trung Quốc. Các nước bị ảnh hưởng đặc biệt bởi sự tăng trưởng của hàng xuất khẩu của Trung Quốc sang Bắc Mỹ và châu Âu là những nước xuất khẩu các mặt hàng mà Trung Quốc có khả năng cạnh tranh đặc biệt. Các nước này là những nước như Bănglađét, Cămpuchia và Thái Lan ở châu Á, Lesotho ở Cận Xahara của châu Phi, Mêhicô và một số nước Trung Mỹ khác. Vấn đề đặc biệt cấp bách đối với các nước phát triển xuất khẩu hàng dệt và hàng may mặc nhiều theo hệ thống hạn ngạch của MFA. Với sự kết thúc của MFA, các nước này phải đối mặt với sự cạnh tranh trực tiếp của Trung Quốc và khó mà cạnh tranh nổi. Đã có những báo cáo về những vụ đóng cửa nhà máy ở nhiều nước, như Banglađét, El Sanvado và Lesotho. Vấn đề không chỉ giới hạn ở những nước chuyên sản xuất hàng công nghệ thấp. Vì ngành công nghiệp Trung Quốc ngày càng trở nên tinh xảo hơn về công nghệ, nên phạm vi hàng xuất khẩu của Trung Quốc phát triển rộng và cũng đe dọa các nước xuất khẩu thu nhập trung bình về sản phẩm cần nhiều vốn hơn và kỹ thuật tinh xảo hơn như Mêhicô và Malaixia. Xuất khẩu một số hàng nông sản của Trung Quốc cũng gia tăng, ví dụ, táo của Trung Quốc đang ảnh hưởng đến các thị trường của các nước như Chilê và Nam Phi. Cạnh tranh ở thị trường trong nước Hàng hóa của Trung Quốc không chỉ tràn ngập thị trường các nước phát triển, mà cũng phát triển nhanh trong thế giới đang phát triển. Điều này có hai hậu quả. Một mặt, người tiêu dùng được hưởng lợi do sự sẵn có các sản phẩm rẻ của Trung Quốc. Mặt khác, các nhà sản xuất có thể thấy không thể cạnh tranh và cần giảm sản xuất xuống hoặc thậm chí không kinh doanh nữa. Ở những nước kém phát triển nhất có trình độ công nghiệp hóa rất thấp, hàng hóa Trung Quốc cạnh tranh chủ yếu với hàng nhập khẩu từ các nước khác, do đó lợi ích đối với người tiêu dùng không thể đối trọng bởi tác động tiêu cực đến các nhà sản xuất. Tuy nhiên, về lâu dài, sự thống trị thị trường về hàng sử dụng nhiều nhân công bởi hàng nhập khẩu rẻ của Trung Quốc có thể gây khó khăn cho một nước để khởi động quá trình công nghiệp hóa. Các nước có thu nhập cao hơn, đã thiết lập khu vực công nghiệp, phải đối mặt với mối đe dọa lớn hơn nhiều đối với các nhà sản xuất, đặc biệt là các nước sản xuất hàng hóa kém tinh xảo hơn về công nghệ. Các nước đang phát triển tiến bộ hơn về công nghệ hiện nay có thể ít bị đe dọa hơn, tuy nhiên sẽ bị đe dọa nhiều hơn khi ngành công nghiệp của Trung Quốc nâng cấp. Tác động đến FDI Về FDI, Trung Quốc được coi là quan trọng bởi hai lý do. Thứ nhất là, có mối quan ngại rằng tăng trưởng mạnh dòng FDI vào Trung Quốc đã chuyển hướng đầu tư từ các nước đang phát triển khác. Dòng FDI vào Trung Quốc gia tăng hơn 5 lần trong giai đoạn từ 1990 đến 2003 và Trung Quốc nhận được 10% FDI của thế giới. Tuy nhiên, chưa thấy có bằng chứng về dòng FDI vào Trung Quốc làm thiệt hại đến các nước đang phát triển khác. Hầu hết các nhà bình luận đã kết luận rằng, FDI được thúc đẩy bởi các yếu tố như quy mô thị trường, sự tăng trưởng, và các chính sách kinh tế và sự chuyển hướng vào Trung Quốc cho đến nay không phải là yếu tố quan trọng tác động đến dòng đầu tư vào các nước đang phát triển khác. Thứ hai là, bản thân Trung Quốc đã bắt đầu đầu tư ra nước ngoài và tác động này của sự tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc có thể có tác động tích cực đến tăng trưởng và giảm nghèo ở các nước chủ nhà. Dòng FDI ra ngoài (FDI outflows) trung bình 3 tỷ USD một năm từ năm 2000 đến 2003, tuy nhiên con số này rất nhỏ so với dòng đầu tư của toàn cầu. Tuy nhiên, đầu tư có thể gia tăng trong tương lai vì Chính phủ Trung Quốc đã nới lỏng các hạn chế về đầu tư ra ngoài. Một số nhà bình luận dự báo Trung Quốc có thể là một trong 3 nước đầu tư hàng đầu ở châu Phi trong 5 năm tới. Mặc dù Trung Quốc đầu tư vào chế tạo ở các nước phát triển, ở các nước đang phát triển trọng tâm vẫn chủ yếu là khoáng chất và dầu mỏ. Tác động đến người nghèo Các mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ đã đặt ra mục tiêu giảm một nửa tỷ lệ dân nghèo của thế giới sống với chưa đến 1 USD/ngày cho đến năm 2015. Tăng trưởng kinh tế nổi bật của Trung Quốc đã góp phần chủ yếu đáp ứng mục tiêu này nhờ giảm tỷ lệ dân nghèo của Trung Quốc từ 64% năm 1981 xuống 17% năm 2001. Tuy nhiên, giảm nghèo ở phần còn lại của thế giới không tiến triển với tốc độ như vậy. Thực tế, con số ước tính của Ngân hàng Thế giới giảm 200 triệu trong số người nghèo của thế giới sống với chưa đến 1 USD/ngày kể từ năm 1980, là ít hơn tỷ lệ giảm nghèo đạt được ở Trung Quốc trong cùng thời gian này. Vấn đề là liệu sự phát triển toàn cầu và giảm nghèo của Trung Quốc có góp phần giảm nghèo ở nơi khác không, hoặc là một trở ngại ở đó. Thực tế, sự phát triển bùng nổ của Trung Quốc không có tác động tạo thuận lợi chung đến người nghèo ở những nước khác. Các loại hàng hóa Trung Quốc nhập khẩu nói chung không do người nghèo sản xuất. Mặt khác, họ là người gánh chịu khi việc phát triển mở rộng khai mỏ và chặt hạ gỗ gây ra tác hại hoặc đe dọa đến môi trường sống của các cộng đồng lân cận. Thậm chí, sự tăng trưởng hàng nông sản xuất khẩu như đậu tương có thể có ảnh hưởng xấu đến môi trường và hậu quả xã hội vì là kết quả của sự phát triển mở rộng trồng trọt thương mại và sức ép gia tăng đến người nông dân. Và tác động xấu còn trầm trọng hơn nữa ở những nơi sự cạnh tranh của Trung Quốc dẫn đến mất thị trường xuất khẩu đối với các nước đang phát triển khác. Các thị trường này thường liên quan đến các ngành công nghiệp dựa trên cơ sở nhân lực không có chuyên môn (như hàng may mặc hoặc giày dép), sử dụng nhiều nhân công trả lương thấp, phần nhiều là phụ nữ. Vì vậy, việc mất việc làm sang Trung Quốc có thể có ảnh hưởng lớn đến thu nhập hộ gia đình. Một báo cáo của tổ chức Christian Aid về Bănglađét đã tổng kết tình trạng nghèo khó của nữ nhân công trong ngành công nghiệp hàng may sẵn của nước này là "phất lên thành người nghèo". Chính là những người vừa mới thoát nghèo nhờ sự tăng trưởng xuất khẩu là những người dễ bị tổn hại nhất với sự cạnh tranh của Trung Quốc. Trong lúc người tiêu dùng được hưởng lợi từ nhập khẩu hàng rẻ của Trung Quốc, mức độ hưởng lợi này có với tới những người nghèo không thì còn chưa rõ. Hàng nhập khẩu có xu hướng được dân ở khu vực đô thị và đặc biệt là những người khá giả tiêu thụ. Người nghèo được hưởng tới đâu phụ thuộc vào việc họ có tiếp cận được đến hàng nhập khẩu này không và liệu giá lề (border prices) thấp hơn có được chấp nhận đối với người tiêu dùng không. (lower border prices are passed to the consumer). Kết luận Trong những năm gần đây, sự tăng trưởng của Trung Quốc là một yếu tố quan trọng trong việc duy trì động lực của nền kinh tế thế giới. Sự giảm tốc độ phát triển của Trung Quốc chắc chắn có tác động xấu đến tăng trưởng ở các nước đang phát triển khác. Tuy nhiên, ảnh hưởng của Trung Quốc ở những nơi khác thay đổi giữa các nước và trong từng nước. Các nước có nền kinh tế bổ sung cho nền kinh tế của Trung Quốc được hưởng lợi. Các nước này bao gồm một số trong các nước láng giềng Đông Á của Trung Quốc, sử dụng Trung Quốc làm cơ sở để lắp ráp hàng xuất khẩu của họ, và một số nước đang phát triển sản xuất hàng hóa tận dụng được ưu thế tăng trưởng của thị trường Trung Quốc để tăng cường xuất khẩu của nước họ và nhận được điều khoản thương mại tốt hơn. Mặt khác, các nước cạnh tranh trực tiếp với với Trung Quốc trong các thị trường xuất khẩu có thể sẽ phải chuyển chỗ. Trong các nước, các nhóm khác nhau bị ảnh hưởng khác nhau bởi sự tăng trưởng của Trung Quốc. Như nêu ở trên, người nghèo không được hưởng lợi trực tiếp trong nhiều trường hợp và có thể bị ảnh hưởng xấu. Tuy nhiên, những hậu quả này không tránh khỏi. Ví dụ, xuất khẩu gỗ súc và khoáng chất gia tăng có thể được sử dụng để tạo thu nhập thêm cho Chính phủ thông qua tiền bản quyền và tiền thuế thu được. Ở đâu có ý chí chính trị, chúng có thể được biến thành các chương trình nhằm mục đích giảm nghèo. (Development and Cooperation, 10/2005) ************** |
||
