Nhật Bản đề xuất ý tưởng thành lập “OECD Đông Á” |
||
| Dạng tài liệu | : | Bài trích bản tin |
| Ngôn ngữ tài liệu | : | vie |
| Tên nguồn trích | : | Tri thức và phát triển |
| Dữ liệu nguồn trích | : | 2006/Số 20/HỘI NHẬP VÀ PHÁT TRIỂN: |
| Đề mục | : | 11.15 Chính sách đối ngoại. Quan hệ quốc tế. Ngoại giao |
| Từ khoá | : | Nhật Bản ; Đông Á |
| Nội dung: | ||
|
Bộ trưởng Công nghiệp, Thương mại và Kinh tế Nhật Bản, Toshihiro Nikai, tháng trước đã đề xuất ý tưởng thành lập một “OECD Đông Á” theo mô hình Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) có trụ sở tại Pari, có vai trò như một cơ quan tư vấn của toàn khu vực.
Theo Nhà kinh tế Purnendra Jain, sáng kiến mới này là một phần trong nỗ lực muốn nâng cao vai trò hướng đạo của Nhật Bản tại Đông Nam Á. Trong thập kỷ 70, “Học thuyết Fukuda” đã mở ra một chương mới trong quan hệ của Nhật Bản với các nước khu vực. Thương mại cùng với những khoản viện trợ rất lớn và vốn đầu tư trực tiếp của Nhật Bản rót vào nhiều nước Đông Nam Á đã góp phần giúp các nước khu vực đạt nhịp độ tăng trưởng kinh tế khá cao. Trước sự cạnh tranh khốc liệt và nhiều thách thức trong việc duy trì ảnh hưởng tại Đông Nam Á, Nhật Bản buộc phải đưa ra những sáng kiến ngoại giao mới. Thông qua đề xuất nêu trên, Nhật Bản mong muốn kiến lập mối quan hệ đối tác kinh tế giữa 16 thành viên Cộng đồng Đông Á (EAC) tiến tới khởi động các cuộc thương thuyết về vấn đề ký Hiệp định thương mại tự do Đông Á vào năm 2008. EAC gồm 10 thành viên Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN) cùng với Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, Ôxtrâylia và Niu Dilân. Mặc dù EAC là mục tiêu cao nhất trong tầm nhìn khu vực của Tôkyô như Thủ tướng Junichiro Koizumi đã đề ra trong Tuyên bố Tôkyô tháng 12/2003, song tiến độ thực hiện EAC khá chậm chạp vì nhiều lý do. Nếu trở thành hiện thực, EAC sẽ là một thế lực có nhiều ảnh hưởng và trở thành cực thứ ba sau Hiệp định Thương mại Tự do Bắc Mỹ (NAFTA) và Liên minh châu Âu (EU). Đây không phải là lần đầu tiên, Nhật Bản đưa ra một sáng kiến mới hướng tới sự hợp tác khu vực trên quy mô rộng lớn hơn. Do vững tin vào các cơ chế hợp tác đa phương, Nhật Bản đã đóng vai trò quan trọng trong việc thành lập các thể chế khu vực, trong đó có Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB). Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á-Thái Bình Dương (APEC) cũng là sáng kiến của Nhật Bản. Bộ Thương mại Quốc tế và Công nghiệp Nhật Bản - tiền thân của Bộ Công nghiệp, Thương mại và Kinh tế Nhật Bản - là cơ quan khởi xướng sáng kiến thành lập APEC. Trong thời gian xảy ra cuộc khủng hoảng tài chính châu Á vào những năm cuối thập kỷ 90, Nhật Bản cũng đã đề xuất thành lập Quỹ Tiền tệ châu Á (AMF) và bày tỏ mong muốn được đóng góp lớn về tài chính. ý tưởng này nhằm tạo thêm những giải pháp tài chính cả gói cho những nước trong vùng cần sự cứu giúp khi rơi vào khủng hoảng trong tương lai, góp phần giảm thiểu những tác động của chúng đối với các quốc gia khác. Tuy vậy, Mỹ đã ngăn cản sáng kiến này với lý do AMF có thể làm suy yếu Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và có thể ảnh hưởng tới vai trò của Mỹ ở châu Á. Còn Trung Quốc cũng phản đối sáng kiến AMF vì e ngại động thái này làm nổi bật vai trò của Nhật Bản tại thời điểm Bắc Kinh đã bắt đầu mở rộng ảnh hưởng của mình. Đề xuất mới của Nhật Bản có một số điểm đáng lưu ý như sau: Thứ nhất, không giống APEC và Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF), Mỹ không có chân trong đề xuất thành lập “OECD Đông Á”. Thứ hai, mặc dù gắn mác “Đông Á” nhưng một số thành viên của tổ chức này vươn ra ngoài Đông Á để bao gồm cả Ôxtrâylia và Niu Dilân. Sự góp mặt của Ấn Độ trong “OECD Đông Á” là một điểm đáng chú ý nhất vì nước này chưa từng xuất hiện trong bất kỳ đề xuất khu vực nào được đưa ra trước đây. Mặc dù Niu Dilân có thể rất hài lòng tham gia bất kỳ thể chế khu vực mới nào và chắc chắn sẽ xem xét đề xuất của Tôkyô một cách tích cực, nhưng việc Trung Quốc sẽ phản ứng ra sao đối với đề xuất này là vấn đề cần lưu ý nhất. Các nước Đông Nam Á dường như có thể sẽ khó chấp nhận những đề xuất của Nhật Bản trừ phi đề xuất đó được Bắc Kinh chấp nhận. Việc phải duy trì các mối quan hệ cân bằng trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương đòi hỏi Nhật Bản phải tìm kiếm sự hợp tác sâu rộng hơn và xử lý xung đột hiệu quả trên một mặt trận địa lý chiến lược rộng lớn hơn. Tình hình hiện nay đòi hỏi Nhật Bản phải tạo dựng với các nước láng giềng mối tin cậy, yếu tố được coi là cực kỳ quan trọng trong phát triển những quan hệ hợp tác trong khu vực. Nếu thiếu sự tin cậy này, thì dù sáng kiến chân thành nhất của Nhật Bản như việc thành lập một OECD châu Á, dường như cũng sẽ bị “nhấn chìm” ngay tại chỗ. Nguồn: Kinh tế Việt Nam & Thế giới, 5/05/2006 |
||
