Sự phát triển vượt bậc của công nghệ hạt nhân Hàn Quốc |
||
| Dạng tài liệu | : | Bài trích bản tin |
| Ngôn ngữ tài liệu | : | vie |
| Tên nguồn trích | : | Tri thức và phát triển |
| Dữ liệu nguồn trích | : | 2006/Số 19/XU THẾ, DỰ BÁO, CHIẾN LƯỢC, CHÍNH SÁCH: |
| Đề mục | : | 12.31 Lao động khoa học. Sáng tạo khoa học |
| Từ khoá | : | Công nghệ hạt nhân ; Hàn Quốc |
| Nội dung: | ||
|
Điện hạt nhân là lựa chọn tất yếu của Hàn Quốc. Nước này có khoảng 47 triệu dân, diện tích nhỏ, chủ yếu là đồi núi, tài nguyên nghèo nàn, không có mỏ dầu khí, còn than đá thì số lượng rất nhỏ, tài nguyên nước hạn chế, nguồn năng lượng có được chủ yếu do nhập khẩu nhiên liệu từ nước ngoài. Tốc độ tăng trưởng GDP hàng năm của Hàn Quốc rất cao, nhu cầu năng lượng tăng hơn 9%/năm kể từ năm 1990, tiêu thụ bình quân đầu người năm 2002 là 6172 kWh so với 1000 kWh năm 1980. Trước nhu cầu cấp bách về năng lượng cho phát triển kinh tế và dân sinh, đồng thời giảm thiểu sự ảnh hưởng của các cuộc khủng hoảng dầu mỏ, năng lượng hạt nhân là một sự lựa chọn tất yếu.
Trước đây, Hàn Quốc phụ thuộc vào nhiên liệu hạt nhân nhập khẩu để sản xuất năng lượng nguyên tử, nhưng Hàn Quốc đã chủ động hơn kể từ khi tự sản xuất được trong nước. Không những thế, nhiên liệu hạt nhân của Hàn Quốc còn được cung cấp cho các nhà máy năng lượng hạt nhân thương mại và một số được xuất khẩu sang Mỹ và Brazil. Hàn Quốc hiện đang nổi lên là nước tiên phong trong lĩnh vực công nghệ hạt nhân. Dự án nguyên tử Dài hạn và Trung hạn 10 năm lần thứ hai của nước này sẽ kết thúc vào cuối năm 2006 với vị trí là quốc gia đứng thứ 6 trên thế giới về sản xuất điện hạt nhân và công nghệ hạt nhân. Dự án này bắt đầu năm 1997 với cố gắng nhằm nối liền ranh giới giữa các cường quốc công nghệ hạt nhân tiên tiến và bảo vệ công nghệ hạt nhân nòng cốt. Điểm nhấn khác của Dự án 10 năm này là sự ra đời của “mạch kiểm tra nước nóng tiên tiến phòng ngừa rủi ro “(ATLAS) với mục đích kiểm tra độ an toàn hạt nhân trong lò phản ứng hạt nhân mới và các rủi ro tiềm ẩn khác liên quan đến nhiều loại nguyên liệu hạt nhân. Trong thời gian 10 năm, Hàn Quốc đã rót vào đó 1.272,4 nghìn tỉ Won để phát triển công nghệ mang đặc trưng riêng của Hàn Quốc. Công nghệ này đã đưa Hàn Quốc trở thành quốc gia có năng lượng nguyên tử tiên tiến. Các dự án thiết kế và xây dựng nhà máy đã thành hiện thực với Nhà máy hạt nhân chuẩn Hàn Quốc (KSNP - Korean Standard Nuclear Power Plant) công suất 1 triệu kW. Các lò phản ứng hạt nhân được làm nguội bằng nước nén tiên tiến (APWR) theo kế hoạch sẽ hoàn thành vào năm 2012 và 2013. Bộ Khoa học và Công nghệ Hàn Quốc đã công bố những thành tựu về nghiên cứu hạt nhân của nước này và nhiều thành tích khác vào ngày 17/4/2006 vừa qua, đồng thời cũng đưa ra những phân tích sơ bộ về sự đóng góp của Dự án 10 năm lần thứ hai. Bộ KH&CN nước này cũng tuyên bố Hàn Quốc đã gia nhập các quốc gia tiên tiến trong lĩnh vực công nghệ hạt nhân. Bộ này cũng đang soạn thảo một dự án 5 năm dự kiến sẽ bắt đầu vào năm sau. Dự án này sẽ đầu tư khoảng 1 nghìn tỉ Won cho chi phí nghiên cứu, tập trung vào phát triển công nghệ lò hạt nhân thế hệ mới và nghiên cứu tính khả thi trong xuất khẩu công nghệ và sản phẩm mới. Trong hơn ba thập kỷ qua, sự phát triển của ngành Năng lượng hạt nhân Hàn Quốc đã đóng góp đáng kể cho sự phát triển của đất nước. Đến nay, Hàn Quốc đã có tổng cộng 20 tổ máy với mức đóng góp 40% tổng sản lượng điện toàn quốc. Sự phát triển của ngành Năng lượng hạt nhân Hàn Quốc được chia thành 3 giai đoạn chính sau: Giai đoạn chuẩn bị: Trong giai đoạn này, Hàn Quốc đã có những chuẩn bị bước đầu về mặt pháp lý, tổ chức hành chính, nhân sự và chuẩn bị cho lò nghiên cứu… Về mặt pháp lý, có thể nói, mốc chính thức đầu tiên là vào năm 1957, khi nước này trở thành thành viên của Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA) và tháng 4 năm 1958, Bộ Luật Năng lượng Nguyên tử chính thức có hiệu lực. Trước đó, tháng 3 năm 1956, Mỹ và Hàn Quốc đã ký kết thoả thuận hợp tác về việc sử dụng năng lượng hạt nhân cho mục đích hoà bình. Về mặt tổ chức, năm 1956, Vụ Năng lượng Nguyên tử (Atomic Energy Department - AED) được thành lập tại Bộ Giáo dục Hàn Quốc và tháng 10 năm 1958, sau khi Bộ Luật Năng lượng nguyên tử có hiệu lực, Chính phủ Hàn Quốc công bố thành lập Học viện Năng lượng nguyên tử (Atomic Enery Academy), đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Văn phòng Tổng thống. Về đào tạo chuyên gia, tính đến năm 1958, Hàn Quốc đã cử chuyên gia đi đào tạo ở nước ngoài tổng cộng 89 lần. Trong giai đoạn 1966-1968, Hàn Quốc tiếp tục gửi các kỹ sư đến các nước phát triển về năng lượng nguyên tử để học cách xây dựng và vận hành nhà máy điện nguyên tử. Đến năm 1968, Hàn Quốc thành lập Uỷ ban Thúc đẩy và Phát triển Năng lượng Nguyên tử do một phó Thủ tướng làm Chủ tịch. Về lò phản ứng, tháng 12/1958, Hàn Quốc đã ký kết một hợp đồng với General Dynamics và General Atomic để mua lò phản ứng nghiên cứu 100kw TRIGA Mark II (Đào tạo, nghiên cứu, đồng vị và nguyên tử thông thường). Đầu năm 1962, lò nghiên cứu TRIGA Mark II chính thức vận hành (lò được bắt đầu xây dựng vào tháng 11/1960). Tháng 10/1962, Viện Nghiên cứu Năng lượng nguyên tử (thuộc Học viện Năng lượng Nguyên tử) đã hoàn thành xây dựng nhà máy xử lý chất thải hạt nhân. Ngoài ra, cũng trong năm này, Chính phủ Hàn Quốc đã công bố kế hoạch thúc đẩy phát triển năng lượng nguyên tử. Giai đoạn mở đầu: Năm 1971, Nhà máy Điện hạt nhân đầu tiên của Hàn Quốc Kori 1 được xây dựng theo hợp đồng chìa khoá trao tay (Turkey Contract). Với hợp đồng này, nhà thầu nước ngoài chịu trách nhiệm toàn bộ việc thiết kế, chế tạo và xây dựng nhà máy. Sau khi hoàn thành dự án, nhà cung cấp chuyển giao Nhà máy cho chủ sở hữu. Vào những năm 70, Hàn Quốc là quốc gia lệ thuộc công nghệ nước ngoài, ba tổ máy đầu tiên (Kori 1&2, Wolsong 1) được xây dựng hoàn toàn phụ thuộc vào nhà cung cấp nước ngoài. Nhà cung cấp nước ngoài chịu trách nhiệm toàn bộ từ khâu thiết kế, xây dựng, cho đến khi nhà máy đi vào hoạt động. Các tập đoàn công nghiệp trong nước chỉ đảm nhận ở việc cung cấp lao động và xây dựng công trình với tư cách là nhà thầu phụ. Mục tiêu chính trong giai đoạn này là học tập thông qua hướng dẫn của nhà cung cấp, từng bước làm chủ công nghệ, xác định các hạng mục, thiết bị có thể nội địa hoá. Nhà máy điện hạt nhân đầu tiên Kori 1 với công suất 587 MW có lò phản ứng nước áp lực (Pressurised Water Reator - PWR) được đặt hàng từ Công ty Westinghouse (Mỹ). Nhà máy này bắt đầu được vận hành thương mại năm 1978. Việc xây dựng và vận hành thành công Nhà máy Kori 1 đã mở ra kỷ nguyên mới cho ngành Năng lượng hạt nhân Hàn Quốc. Trong những năm tiếp theo, một loạt các nhà máy điện hạt nhân đã được xây dựng. Vào cuối những năm 70 và đầu những năm 80, 6 tổ máy (Kori 3,4, Yonggwang 1&2, Ulchin 1&2) được xây dựng trên cơ sở tổng thầu là nước ngoài. Tại thời điểm đó, Công ty Điện năng duy nhất của Hàn Quốc là Kepco quản lý Dự án với sự trợ giúp của công ty nước ngoài về thiết kế và kỹ thuật. Ở những dự án này, vai trò của các nhà thầu phụ trong nước đã tăng lên thông qua việc xây dựng địa điểm và cung cấp một số thiết bị cho nhà máy, việc làm chủ kỹ thuật đối với các máy móc cũng được mở rộng hơn. Về tài chính, các nhà máy trên sử dụng từ Quỹ phát triển điện hạt nhân và các nguồn vốn vay thương mại. Tính đến thời điểm đó, hơn 50% tổng đầu tư cho các nhà máy điện hạt nhân là từ nguồn nước ngoài. Giai đoạn thứ 3: Giai đoạn chuyển giao công nghệ. Hàn Quốc đạt được sự tự chủ trong công nghệ hạt nhân thông qua chính sách quốc gia lâu dài để tự chủ về nhiên liệu, thiết kế nhà máy, chế tạo, xây dựng và vận hành. Thực hiện chính sách này, việc chuyển giao công nghệ và tiêu chuẩn hoá nhà máy điện được chọn là phương tiện chủ yếu. Phạm vi và trách nhiệm được Chính phủ xác định và phân chia trong số những đơn vị tham gia vào lĩnh vực hạt nhân. Chiến lược phát triển nhằm đạt được trình độ tự chủ trong kỹ thuật điện hạt nhân thông qua 4 biện pháp: thực hiện dự án thực tế; chuyển giao kỹ thuật công nghệ; tiêu chuẩn hoá nhà máy điện và từng bước nâng cao trình độ thông qua nghiên cứu và phát triển. Để thực hiện kế hoạch trên, hai tổ máy Yonggwang 3&4 được lựa chọn để thực hiện mục đích tự chủ. Vào thời điểm đó, khi thị trường hạt nhân là thị trường của người mua, Hàn Quốc đã đưa vào hợp đồng điều kiện: “Chuyển giao công nghệ song song với việc xây dựng nhà máy”. Hợp đồng chuyển giao công nghệ thời hạn 10 năm được ký với các công ty. Sau năm 1997, thời hạn này tiếp tục được gia hạn thêm 10 năm nữa. Chương trình chuyển giao công nghệ thực sự là bước ngoặt trong lịch sử năng lượng hạt nhân Hàn Quốc. Chuyển giao công nghệ được thông qua các hình thức như: Chuyển giao thông tin kỹ thuật, chuyển giao sáng chế, đào tạo tại lớp, đào tạo tại nơi làm việc, tham gia nghiên cứu phát triển và tư vấn... Trong những năm 90, Hàn Quốc đã đạt được mục tiêu tự chủ về công nghệ. Thành tựu quan trọng đó được thể hiện thông qua “Thiết kế nhà máy năng lượng hạt nhân tiêu chuẩn Hàn Quốc (KSNP)”. Đây là tiêu chuẩn bắt buộc phải áp dụng trong các nhà máy điện hạt nhân để đảm bảo tính hiệu quả và an toàn. Tiếp theo KSNP, Hàn Quốc đã phát triển KSNP+. Tiêu chuẩn này được phát triển trên cơ sở KSNP. KSNP+, hy vọng sẽ cải tiến thiết kế, nâng cao an toàn và tính kinh tế. Hiện nay, KSNP+ đang được áp dụng để xây dựng 4 tổ máy Shin Kori 1&2, Shin Wolsong 1&2. Để tiếp tục đáp ứng nhu cầu điện hạt nhân trong thế kỷ XXI, cũng như khả năng cạnh tranh trong xuất khẩu năng lượng điện, từ năm 1992, Hàn Quốc bắt đầu nghiên cứu, chế tạo lò phản ứng nước nhẹ APR 1400 với công suất phát điện lớn hơn các lò trước đây. Mục tiêu của APR 1400 là nâng cao đặc tính thiết kế tiên tiến, tính an toàn và tính kinh tế. Hai tổ máy Shin Kori 3&4 sẽ được xây dựng với loại lò phản ứng này, đang trong giai đoạn chuẩn bị và hy vọng sẽ được vận hành vào đầu thập kỷ tới. Có thể nói, với việc tự chủ về công nghệ, Hàn Quốc đã tự lực trong việc xây dựng và vận hành nhà máy điện hạt nhân, đưa ngành công nghiệp hạt nhân trở thành ngành quan trọng trong nền công nghiệp Hàn Quốc, góp phần tạo ra nguồn năng lượng ổn định để phát triển đất nước. Đồng thời đưa Hàn Quốc trở thành cường quốc về điện hạt nhân với nhiều tiềm năng xuất khẩu. Nhìn rộng ra toàn thế giới, đa số các nước thuộc Liên Minh châu Âu (EU) đều tán thành năng lượng hạt nhân, hoặc không chống lại việc phát triển nó (hiện EU có 148 lò phản ứng, tỷ lệ điện hạt nhân là 32%). Ở châu Á, chỉ có Nhật và Hàn Quốc là duy trì sự tăng trưởng năng lượng hạt nhân, còn ở Ấn Độ và Trung Quốc thì năng lượng hạt nhân chỉ mới ở giai đoạn phôi thai, mặc dầu có nhu cầu lớn. Nguồn:Nuclear Power in South Korea (http://www.uic.com.au/nip81.htm), KoreaToday, 4/2006 |
||
