Thực trạng và những giải pháp thúc đẩy quan hệ hợp tác kinh tế giữa Việt Nam và EU |
||
| Dạng tài liệu | : | Bài trích bản tin |
| Ngôn ngữ tài liệu | : | vie |
| Tên nguồn trích | : | Tri thức và phát triển |
| Dữ liệu nguồn trích | : | 2006/Số 17/HỘI NHẬP VÀ PHÁT TRIỂN: |
| Đề mục | : | 06.61 Cơ cấu kinh tế theo lãnh thổ. Kinh tế theo vùng |
| Từ khoá | : | Hợp tác kinh tế ; Việt Nam ; EU |
| Nội dung: | ||
|
1. Một số nhân tố tác động
Liên minh châu Âu (EU) sau ngày 01/05/2004 đã được mở rộng với việc kết nạp thêm 10 thành viên mới (Hungari, Ba Lan, Slovenia, Slovakia, Cộng hòa Séc, Latvia, Lítva, Estonia, Quốc đảo Malta, Síp), quy mô kinh tế của EU đứng thứ hai thế giới sau Mỹ và trên Nhật Bản. Hiện nay có nhiều nhân tố tác động đến sự phát triển của EU trong thời gian tới, đồng thời cũng ảnh hưởng tới quan hệ hợp tác kinh tế giữa Việt Nam và EU. - Xét về tổng thể, sức cạnh tranh kinh tế của EU còn thấp hơn so với Mỹ và Nhật Bản, nhất là trong lĩnh vực công nghệ cao và cải cách thể chế. Sau khi mở rộng, EU phải tập trung nhiều nguồn lực tài chính cho việc cơ cấu lại nền kinh tế, giải quyết vấn đề việc làm, thất nghiệp, các chính sách xã hội. Hiện nay do tác động của giá dầu thô tăng vọt, ngày 28/08/2005 giá dầu thô trên thị trường Niu Yook đã tăng tới 70,8 USD/ thùng dầu cộng với thực trạng đồng Euro yếu, đang tác động mạnh mẽ đến các nền kinh tế châu Âu, làm tăng nguy cơ lạm phát, giảm sự tăng trưởng nền kinh tế. Ngân hàng trung ương châu Âu đang giải quyết việc duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế, đồng thời nhiều khả năng phải hạ lãi suất điều này khiến cho đồng Euro càng bị mất giá, việc kiểm soát lạm phát trong điều kiện như vậy càng trở nên khó khăn. Theo dự báo việc giá dầu mỏ tăng sẽ làm cho tốc độ tăng trưởng GDP của nền kinh tế thế giới giảm từ 0,8-1% điều này cũng sẽ tác động đến sự phát triển của EU. Nước Pháp là một trong những nền kinh tế lớn của EU đạt mức tăng trưởng 2,3% năm 2004, mức cao nhất trong 12 thành viên khu vực sử dụng đồng tiền chung Euro cũng nhiều khả năng tăng trưởng chậm lại. - Quan hệ đối tác kinh tế ASEAN-EU đang đứng trước cơ hội mới. Ngày 21-22/07/2005 phiên họp đầu tiên của Nhóm tầm nhìn về Quan hệ đối tác kinh tế ASEAN-EU (Vision Group on Economic Partnership) đã được tổ chức tại Hà Nội. Nhóm tầm nhìn được thành lập theo thỏa thuận giữa các Bộ trưởng kinh tế ASEAN và Cao ủy Thương mại EU nhân dịp Hội nghị tham vấn AEM-EU tại Hạ Long tháng 04/2005. Khi trao đổi với ASEAN về định hướng quan hệ kinh tế ASEAN-EU trong thời gian tới, phía EU nhấn mạnh tầm quan trọng của nhóm tầm nhìn trong việc thúc đẩy và phát triển quan hệ hợp tác kinh tế ASEAN-EU. EU khẳng định chính sách ưu tiên của EU trong quan hệ với ASEAN thời kỳ “Hậu Doha” và nêu rõ mục tiêu của EU muốn tiến tới xây dựng một FTA với ASEAN không phụ thuộc vào kết quả Hội nghị Bộ trưởng WTO tại Hồng Kông hay Vòng đàm phán Doha. Cụ thể, EU muốn tiến tới mục tiêu FTA trên cơ sở phát huy tối đa lợi ích từ khuôn khổ hợp tác TREAT I. Hội nghị đã thống nhất đánh giá rằng quyết định của các Bộ trưởng đã tạo ra động lực và cơ hội lớn để phát triển tích cực quan hệ giữa hai khu vực. - Ngoài những nhân tố trên trong quan hệ giữa EU và khu vực châu Á - Thái Bình Dương đang nổi lên xu hướng thúc đẩy hợp tác thương mại đầu tư giữa EU và Trung Quốc thông qua việc đàm phán hiệp định song phương mới. Liên minh châu Âu và Trung Quốc đang chuẩn bị hiệp định song phương mới vào cuối năm nay. Hiệp định mới này sẽ có nội dung sâu rộng thay thế cho hiệp định song phương cũ được ký vào năm 1985 giữa Trung Quốc và EU. Ủy ban châu Âu (EC) cho rằng hiệp định cũ chỉ có 4 trang giấy đã không còn đủ khả năng bao quát quan hệ hợp tác kinh tế giữa EU và Trung Quốc. Do vậy, cả hai bên đều mong muốn có một hiệp định mới với nội dung rộng lớn hơn. Quan hệ kinh tế EU và Trung Quốc đã có bước phát triển nhanh chóng trong những thập kỷ qua, trao đổi thương mại song phương tăng vọt từ mức 2,4 tỷ USD năm 1975 lên 177,3 tỷ USD năm 2004, trong đó Trung Quốc xuất sang EU 107,2 tỷ và nhập khẩu EU 70,1 tỷ. EU đã vượt Hoa Kỳ trở thành đối tác lớn nhất của Trung Quốc. Vòng đàm phán mới có nội dung hợp tác kinh tế, thảo luận chính sách, các vấn đề liên quan đến kỹ thuật như bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, tranh chấp thương mại, chính sách bảo vệ môi trường. - Việc mở rộng EU, trong đó có nhiều nước là thành viên cũ của khối SEV (Hội đồng tương trợ kinh tế) vốn có quan hệ truyền thống với Việt Nam, sẽ tạo điều kiện để nước ta tiếp tục duy trì quan hệ hợp tác với các nước này và EU mở rộng mới. Sau khi mở rộng, EU có khả năng trở thành thị trường lớn nhất thế giới với sức mua gần 500 triệu dân, sức mua đa dạng tạo điều kiện cho việc mở rộng thị trường của Việt Nam. Tuy nhiên việc mở rộng EU sẽ gắn liền với quá trình tự do hóa thương mại, giảm dần thuế quan, tăng hàng rào phi thuế quan, xóa dần chế độ hạn ngạch, điều này sẽ gây khó khăn cho hàng xuất khẩu Việt Nam với sức cạnh tranh còn yếu. Hơn nữa, quan hệ thương mại giữa Việt Nam và các nước thành viên mới của EU sẽ thay đổi, khó duy trì theo hình thức cũ và yêu cầu về tiêu chuẩn hàng hóa xuất khẩu vào thị trường này sẽ cao hơn phù hợp với tiêu chuẩn chung của EU. Mặt khác, theo dự báo tốc độ và lượng vốn đầu tư từ các nước EU vào Việt Nam sau khi EU mở rộng sẽ bị ảnh hưởng, có thể giảm vì nguồn vốn của EU phải chia sẻ và tập trung chuyển vào những nước thành viên mới. - Việt Nam và EU đã kết thúc đàm phán đối với việc Việt Nam gia nhập WTO. Điều này được đánh giá là một trong những mốc quan trọng trên con đường Việt Nam gia nhập WTO (có ý kiến cho rằng kết thúc đàm phán với EU, chúng ta đã đi được 70% chặng đường gia nhập WTO). Hiện nay EU là đối tác thương mại chính của Việt Nam chiếm 17% tổng kim ngạch thương mại Việt Nam, sau đó là các nước như Mỹ chiếm 14%, Nhật Bản 13%, Trung Quốc 11%. Tổng lưu lượng hàng hóa giữa 25 nước thành viên EU vào Việt Nam trong năm 2003 là 6,4 tỷ Euro. Năm 2003 EU nhập hàng hóa từ Việt Nam với tổng giá trị 4,7 tỷ Euro. EU xuất khẩu vào Việt Nam với tổng giá trị 2 tỷ Euro. Từ năm 1999 đến 2003 kim ngạch nhập khẩu của EU vào Việt Nam tăng 9%/năm. Việt Nam được hưởng ưu tiên tiếp cận thị trường EU theo khuôn khổ hệ thống ưu đãi phổ cập (GSP), hệ thống này hạ thuế nhập khẩu xuống thấp hơn mức dành cho Quy chế Tối huệ quốc. Nhìn chung EU có quy định về Luật chống bán phá giá, bảo vệ môi trường với hàng rào kỹ thuật cao hơn so với nhiều nước. Thỏa thuận giữa Việt Nam và EU về việc gia nhập WTO của Việt Nam bao hàm những cam kết mà Việt Nam sẽ thực hiện trong lĩnh vực hàng hóa và dịch vụ khi Việt Nam gia nhập WTO. Điều này sẽ dần tới việc mở rộng hơn nữa thị trường Việt Nam, xây dựng trên cơ sở cố gắng mà Việt Nam thực hiện được trong quá trình đổi mới. Mức thuế nhập khẩu trung bình mà Việt Nam áp dụng đối với hàng hóa nhập khẩu của EU là khoảng 16% đối với hàng công nghiệp, 22% đối với hàng thủy sản và 24% đối với sản phẩm nông nghiệp. Theo đại diện của EU đây là mức thuế chấp nhận được, nó nằm giữa mức thuế mà EU đã đàm phán được với Campuchia (trên 20%) và Trung Quốc (dưới 10%). Các mức thuế trên sẽ ảnh hưởng đến sản xuất của các ngành nông nghiệp, công nghiệp. Đối với sản xuất công nghiệp mức thuế 16% có tác động khá lớn đến sản xuất hàng hóa trong nước, trong đó nhóm hàng công nghiệp ôtô, xe máy là nhóm hàng có ảnh hưởng nhiều nhất bởi nhóm hàng này hiện có mức thuế xuất nhập khẩu rất cao. Về dịch vụ, Việt Nam và EU đã thảo luận nhiều vấn đề này vì đây là thế mạnh của EU đồng thời cũng là lĩnh vực mà Việt Nam còn nhiều yếu kém. Đối với viễn thông, phía EU chấp nhận mức hạn chế 30% đầu tư nước ngoài vào các Công ty Việt Nam. Trong lĩnh vực tài chính ngân hàng phía EU cho biết các thỏa thuận đạt được cơ bản đáp ứng yêu cầu mà EU đặt ra, duy chỉ có vấn đề mở cửa các chi nhánh bảo hiểm của EU vào Việt Nam mà không đạt được. Còn những vấn đề khác trong lĩnh vực Ngân hàng như quy định về mức vốn pháp định tối thiểu khi mới thành lập, khống chế tỷ lệ huy động tiền VNĐ là những yêu cầu bắt buộc của Pháp luật Việt Nam. Gia nhập WTO sẽ kết nối Việt Nam vào hệ thống thương mại thế giới dựa trên luật quốc tế tăng cường minh bạch, công khai hóa, cạnh tranh của môi trường đầu tư kinh doanh, điều này tạo điều kiện cho việc cải thiện thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam. Việt Nam coi EU là đối tác quan trọng hàng đầu, EU coi Việt Nam là thị trường tiềm năng kinh tế. II. Đánh giá chung và kiến nghị giải pháp Mặc dù quan hệ kinh tế thương mại Việt Nam-EU đang phát triển nhanh và có triển vọng to lớn nhưng thực trạng hiện nay còn gặp khó khăn và chưa tương xứng với tiềm năng kinh tế của hai bên: trị giá thương mại Việt Nam-EU mới chiếm 0,12% tổng kim ngạch ngoại thương của EU và chiếm 17% tổng kim ngạch ngoại thương của Việt Nam. Nhìn chung, hàng xuất khẩu của Việt Nam vào EU còn nghèo nàn về chủng loại, chất lượng chưa cao, mẫu mã đơn sơ, còn tập trung vào một số ít mặt hàng như dệt may, giày dép, thủy sản... So với các nước đang phát triển và mới phát triển ở châu Á, hàng hóa Việt Nam xuất khẩu vào EU có lợi thế do đang được hưởng GSP, song khả năng cạnh tranh lại kém so với các nước châu Phi, Thái Bình Dương và Caribê, cũng như của một số nước Đông Âu, cũng một phần do các nước này được hưởng các ưu đãi thương mại riêng theo Công ước Lomé hoặc theo các hiệp định liên kết. Về phía chủ quan, nhìn chung các doanh nghiệp Việt Nam còn thiếu kinh nghiệm thương trường, kiến thức hiểu biết về luật lệ, văn hóa kinh doanh của thị trường EU còn hạn hẹp; việc tiếp thị nắm thông tin về kinh tế thị trường EU còn nhiều hạn chế. Các doanh nghiệp của ta nhìn chung vẫn làm ăn theo phong cách của sản xuất nhỏ, manh mún, chưa phù hợp với truyền thống và tập quán kinh doanh châu Âu, ngay cả việc khai thác các lợi thế như: chế độ thuế GSP mà EU dành cho Việt Nam cũng chưa biết tận dụng một cách hiệu quả. Nhìn chung các doanh nghiệp của ta còn có ý thủ thế, chưa mạnh dạn khai thác các thế mạnh để tìm thế chủ động, thể hiện tính tiến công trong việc chinh phục, chiếm lĩnh thị trường EU. Mặt khác, Nhà nước cũng chưa có chính sách hỗ trợ một cách tích cực, hiệu quả trong việc giúp doanh nghiệp về thông tin kinh tế, xúc tiến thương mại, tìm kiếm thị trường, tiến hành cải cách hành chính cần thiết để giảm chi phí kinh doanh cho các doanh nghiệp, nghiên cứu giảm thuế các mặt hàng là nguyên liệu đầu vào để doanh nghiệp hạ giá thành sản xuất, đồng thời với chính sách khuyến khích xuất khẩu... Bên cạnh đó, theo đánh giá của các chuyên gia EU, mặc dù Việt Nam đã có chính sách hội nhập kinh tế quốc tế tầm chiến lược, tuy nhiên một số chính sách trong ngắn hạn thường xuyên thay đổi, nhiều khi không nhất quán, thiếu ổn định ảnh hưởng đến sự hấp dẫn của môi trường đầu tư (chính sách thuế, quy định về tỷ lệ nội địa hóa liên quan đến xuất khẩu...), nên chưa tạo cho bạn hàng EU lòng tin, yên tâm quan hệ làm ăn lâu dài với các doanh nghiệp Việt Nam. Triển vọng trong thời gian tới, xuất khẩu của Việt Nam sang EU vẫn có chiều hướng tốt do đây là khu vực kinh tế ổn định, ít biến động và EU vẫn đang dành cho Việt Nam chế độ ưu đãi thuế quan GSP (chỉ có hàng dệt may là quản lý bằng hạn ngạch). Tuy nhiên, hàng hóa Việt Nam sẽ phải cạnh tranh hết sức gay gắt với hàng hóa của các nước khác, nhất là Trung Quốc, một số mặt hàng truyền thống như dệt may, thủy sản, gạo, đường... sẽ gặp khó khăn...) do quy định của EU. Về tổng thể việc phát triển thị trường xuất khẩu nước ta vào EU sẽ ngày càng khó khăn hơn nếu ta không sớm gia nhập WTO. Kiến nghị 1. Trong thời gian tới, để có thể mở rộng khả năng xâm nhập thị trường EU, tranh thủ công nghệ nguồn, vật tư, nguyên liệu, thiết bị, máy móc phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, chúng ta cần phải tiến hành đồng bộ nhiều biện pháp ở tầm vĩ mô và vi mô. Đặc biệt cần xây dựng một chính sách thị trường thích hợp cho khu vực EU nhằm mở rộng đẩy mạnh xuất nhập khẩu của Việt Nam với EU, chủ động tiếp cận, thâm nhập thị trường, kết hợp giữa việc thu hút đầu tư của EU vào Việt Nam với việc phát triển quan hệ thương mại giữa Việt Nam và EU nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của các sản phẩm xuất khẩu và của các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế hoạt động thương mại trên thị trường này. 2. Ngoài các sản phẩm chủ lực như: may mặc, giầy dép, cà phê, thủy sản chiếm khoảng 2/3 tổng giá trị hàng xuất vào thị trường EU cần chú trọng mở rộng các mặt hàng khác như: sản phẩm gỗ, nhựa gia dụng, thực phẩm chế biến, sản phẩm điện tử, linh kiện vi tính, phần mềm. Về lâu dài, dựa trên đánh giá lợi thế so sánh, lợi thế cạnh tranh của nền kinh tế, cần nghiên cứu đầu tư xây dựng các xí nghiệp sản xuất nguyên liệu (nhất là cho ngành dệt may và giầy dép...) nhằm hạ tỷ lệ hàng gia công, tăng tỷ lệ hàng xuất khẩu trực tiếp, tập trung đầu tư vào các ngành sản xuất những sản phẩm có chất lượng cao đủ sức cạnh tranh trên thị trường trong nước và xuất khẩu. 3. Đối với các doanh nghiệp, Nhà nước cần hỗ trợ đẩy mạnh xúc tiến thương mại, cung cấp thông tin thị trường, giới thiệu luật lệ kinh doanh của EU và của từng nước trong khối như: Hỗ trợ các doanh nghiệp trong việc thu thập và xử lý thông tin về thị trường trong và ngoài nước, xây dựng và thiết kế trang Web, giới thiệu các sản phẩm của công ty để đa nên mạng giao dịch quốc tế, từng bước thực hiện việc thanh toán qua mạng (e-commerce). Tiếp tục cải tiến, hoàn thiện các thủ tục, cơ chế chính sách về xuất nhập khẩu nhất là thủ tục hải quan, các loại thuế nhất là VAT theo hướng minh bạch đơn giản, phù hợp với thông lệ quốc tế. Mặt khác, Nhà nước cần thực hiện nhiều biện pháp hỗ trợ, khuyến khích các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh, xuất nhập khẩu với thị trường EU (quỹ khuyến khích xuất khẩu, thưởng xuất khẩu, thành lập các trung tâm thương mại tại các thị trường trọng điểm...) nhằm tạo điều kiện cho doanh nghiệp Việt Nam có điều kiện xâm nhập, đứng vững và phát triển tại thị trường này. 4. Để tranh thủ nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), vốn ODA của các nước EU, theo ý kiến của nhiều chuyên gia, Việt Nam cần cải thiện nhanh môi trường đầu tư tập trung vào 3 nội dung chính là: - Cải cách nhanh thủ tục hành chính, xây dựng chính sách chung cho đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài, cho các loại hình doanh nghiệp (nhà nước, tư nhân và doanh nghiệp FDI). - Giảm chi phí đầu tư nhất là giá điện, cước viễn thông, giá đất, giá vận chuyển... hạn chế tình trạng độc quyền của một số doanh nghiệp nhà nước trong một số lĩnh vực, thực thi Luật cạnh tranh và kiểm soát độc quyền. - Mở rộng lĩnh vực và phạm vi đầu tư phù hợp với yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế để tăng tính cạnh tranh đối với các nước trong khu vực, nhất là Trung Quốc trong việc thu hút nguồn vốn FDI. 5. Các Bộ ngành và doanh nghiệp cần có kế hoạch tích cực chuẩn bị để tranh thủ những điều kiện thuận lợi và khắc phục những khó khăn, thách thức mới về thương mại, đầu tư khi EU mở rộng sau khi kết nạp thêm 10 thành viên mới vào 1/5/2004. Do vậy chúng ta phải có những phương án chuẩn bị hiệu quả, phù hợp với những thay đổi trong thời gian tới của EU. (Kinh tế châu Á-Thái Bình Dương, Số 01, từ 02 đến 08/01/2006) *********************** |
||
