VIỆT NAM SAU 5 NĂM THỰC HIỆN MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN THIÊN NIÊN KỶ |
||
| Dạng tài liệu | : | Bài trích bản tin |
| Ngôn ngữ tài liệu | : | vie |
| Tên nguồn trích | : | Tri thức và phát triển |
| Dữ liệu nguồn trích | : | 2006/Số 9/HỘI NHẬP VÀ PHÁT TRIỂN: |
| Đề mục | : | 06.61 Cơ cấu kinh tế theo lãnh thổ. Kinh tế theo vùng |
| Từ khoá | : | Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ ; Việt Nam |
| Nội dung: | ||
|
Tuyên bố Thiên niên kỷ được 189 Nguyên thủ Quốc gia thông qua và cam kết thực hiện tại Hội nghị Thượng đỉnh của Liên Hợp Quốc tháng 9 năm 2000 với 8 mục tiêu lớn: mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ. Sau 5 năm thực hiện 8 mục tiêu này, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn đáng ghi nhận, song bất cập vẫn còn nhiều. Dưới đây là những nét chủ yếu của thực trạng đó.
1. Thành tưu đáng tự hào: trong 5 năm 2000-2005, Việt Nam đã đưa các mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ lồng ghép với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 5 năm và hàng năm phù hợp với các điều kiện của đất nước giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Xuất phát từ yêu cầu đó, Nhà nước ban hành nhiều cơ chế, chính sách nhằm huy động tối đa các nguồn lực trong nước và thu hút nguồn vốn từ bên ngoài để phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời thực hiện các mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ và đã đạt được những thành tựu lớn đáng ghi nhận. Giảm hơn một nửa tỷ lệ hộ nghèo. Thành tựu lớn nhất của Việt Nam trong 5 năm qua là xóa hộ đói, giảm hộ nghèo. Theo chuẩn nghèo chung của Ngân hàng Thế giới (gồm cả nghèo về lương thực, thực phẩm), tỷ lệ hộ nghèo của Việt Nam đã giảm mạnh, từ 58,1% năm 1993 xuống còn 37,4% năm 1998, 28,9% năm 2002 và 24,1% năm 2004. Như vậy, từ 1993 đến 2004, Việt Nam đã giảm hơn một nửa tỷ lệ hộ nghèo và gần 70% tỷ lệ hộ thiếu đói. Tỷ lệ hộ nghèo giảm ở tất cả các vùng trong nước, từ thành thị đến nông thôn, với mức độ khác nhau. Nếu so sánh giữa hai khu vực thành thị với nông thôn thì tốc độ giảm nghèo nhanh nhất là nông thôn. Nguyên nhân của kết quả trên là do Nhà nước có nhiều chương trình quốc gia và quốc tế về xóa đói giảm nghèo đã đem lại hiệu quả thiết thực. Đó là Chương trình 135 hỗ trợ các xã đặc biệt khó khăn, chương trình 773 về tạo việc làm mới, Chương trình 327 phủ xanh đất trống đồi núi trọc, trồng mới 5 triệu ha rừng, đánh bắt cá xa bờ, định canh định cư, cấp đất cho đồng bào dân tộc Tây Nguyên, lương thực thực phẩm, khôi phục phát triển làng nghề, phát triển kinh tế trang trại, xây dựng hạ tầng cơ sở nông thôn, tín dụng cho người nghèo... Kết quả của các chương trình, dự án đó là kinh tế tăng trưởng khá, bình quân 7,5% năm thời kỳ 2001-2005, tạo việc làm mới cho 7,5 triệu lao động, xã hội ổn định, sản xuất lương thực thực phẩm tăng trưởng cao (sản lượng lương thực có hạt năm 2004 đạt gần 40 triệu tấn), an ninh lương thực quốc gia đảm bảo, thu nhập của dân cư nói chung, các hộ nghèo nói riêng đều tăng khá. Lương thực có hạt bình quân nhân khẩu từ 363,1 kg năm 1995 tăng lên 444,9 kg năm 2000, 479,1 kg năm 2004 và ước 481 kg năm 2005. Thu nhập bình quân nhân khẩu một tháng năm 2004 đạt 484 nghìn đồng, tăng 36% so với năm 2002, tốc độ tăng bình quân 16,6%/năm, cao hơn mức tăng 6% của thời kỳ 1999-2001. Đạt mục tiêu phổ cập giáo dục. Một trong những nội dung quan trọng của mục tiêu thiên nhiên kỷ là phổ cập giáo dục cho mọi người. Trong 5 năm qua, cùng với phát triển kinh tế - xã hội, Nhà nước Việt Nam đã quan tâm và đầu tư hỏa đáng cho công tác giáo dục. Kết quả đáng ghi nhận là, cho đến năm 2005 Việt Nam đã cơ bản hoàn thành mục tiêu phổ cập giáo dục với nhiều tiêu chí cụ thể. Việt Nãm đã đạt chuẩn quốc gia về xóa mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học. Tỷ lệ học sinh tiểu học đi học đúng độ tuổi tăng từ 90% của những năm 1990 lên 97,5% năm học 2004-2005. Tỷ lệ học sinh trung học cơ sở đi học đúng tuổi tăng từ 80% năm 2000-2001 lên 83,7% năm học 2004-2005. Công tác phổ cập giáo dục trung học cơ sở đang được nhiều địa phương triển khai tích cực. Đến năm 2005 đã có 30/64 tỉnh, thành phố trực thuộc TW đạt tiêu chuẩn phổ cập trung học cơ sở. Tỷ lệ học sinh tiểu học hoàn thành các cấp học đạt từ 77% năm học 2001-2002 tăng lên 82% năm học 2004-2005. Đặc biệt, việc dạy chữ dân tộc cho đồng bào các dân tộc thiểu số đã được thực hiện với 8 thứ tiếng ở các địa phương, nhờ đó tỷ lệ mù chữ của các dân tộc thiểu số giảm mạnh và đến nay chỉ còn 22,6%. Tiến bộ này đẫ góp phần nâng chỉ số phát triển con người của Việt Nam năm 2004 lên 4 bậc, từ thứ 112 năm 2004 lên 108 năm 2005. Bình đẳng giới được đảm bảo, vai trò phụ nữ được nâng cao. Phụ nữ Việt Nam chiếm 50,8% dân số và 48,2% lực lượng lao động xã hội, đóng vai trò quan trọng trong đời sống xã hội và phát triển đất nước. Vị thế của phụ nữ ngày càng được nâng cao, giá trị chỉ số giới (GDI) của Việt Nam tăng từ 0,668 năm 1998 lên 0,689 năm 2004. Việt Nam thuộc nhóm nước có thành tựu tốt nhất về chỉ số này trong khu vực. Trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo, tỷ lệ nữ so với nam trong số những người biết chữ ở độ tuổi 15-24 là 0,99%. Chênh lệch tỷ lệ học sinh nam-nữ trong tất cả các cấp học tương đối nhỏ. Tỷ lệ nam/nữ trong cấp tiểu học năm học 2003-2004 là 52,7%/47,3%; bậc trung học cơ sở là 52,3% và 47,7%, bậc phổ thông trung học là 51,8% và 48,2%; bậc cao đẳng là 53,2% và 46,8% và bậc đại học là 50,5% và 49,5%. Phụ nữ trực tiếp là giáo viên chiếm tỷ lệ cao hơn nam giới: ở bậc mầm non là 100%, bậc tiểu học là 78,3%, bậc trung học cơ sở là 68,2%, bậc trung học phổ thông là 56,1% và ở bậc trung học chuyên nghiệp là 65,6%. Riêng bậc đại học và cao đẳng tỷ lệ nữ có 40,5% tổng số giáo viên cùng cấp. Tỷ lệ nữ tham gia các công tác xã hội, là cán bộ lãnh đạo các cấp có xu hướng tăng dần. Tỷ lệ nữ tham gia Hội đồng Nhân dân cấp tỉnh, thành nhiệm kỳ 1999-2004 là 23,8% (so với 22,3% nhiệm kỳ trước đó). Tỷ lệ nữ là đại biểu Quốc hội đã trên 27,3%, cao nhất các nước châu Á. Trong các cơ quan Nhà nước, tỷ lệ nữ là Bộ trưởng chiếm 12,5%, thứ trưởng và tương đương chiếm 9,1%. Tỷ lệ nữ là chủ tịch UBND các cấp từ tỉnh, huyện xã chiếm trên 10%. Nguyên nhân của tiến bộ đó một mặt do Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn luôn quan tâm và khẳng định vị trí bình đẳng của phụ nữ, đồng thời tạo mọi điều kiện cho chị em phát huy thế mạnh của mình trên từng lĩnh vực, mặt khác bản thân phụ nữ đã có nhiều cố gắng để tự khẳng định vai trò quan trọng trong sản xuất, kinh doanh và tham gia công tác xã hội. Công tác chăm sóc và bảo vệ trẻ em được cải thiện đáng kể. Tỷ lệ tử vong của trẻ em đã giảm rõ rệt trong 10 năm qua, nhất là 5 năm gần đây. Năm 2005 tỷ lệ tử vong của trẻ em dưới 5 tuổi chỉ còn 3,5%, trong đó tỷ lệ tử vong của trẻ em dưới 1 tuổi là 2,1% so với 2 tỷ lệ tương ứng của năm 1990 là 5,8% và 4,45%. Tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng giảm từ 44,9% năm 1995 xuống 33,8% năm 2000; 31,9% năm 2001 và còn dưới 25% năm 2005. Trong 5 năm qua, Việt Nam đã thực hiện tốt chương trình tiêm chủng mở rộng và mang lại kết quả khả quan. Chương trình này đã dành sự ưu tiên đặc biệt về kinh phí, vật tư, nhân lực cho các vùng có điều kiện khó khăn như miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số, vùng bị thiên tai. Nhờ đó tỷ lệ trẻ em được tiêm chủng đủ 6 loại vắcxin năm 2003 đạt tỷ lệ 96,7%, mức cao nhất so với các nước trong khu vực. Kết quả đáng mừng là số trẻ em bị bệnh truyền nhiễm giảm mạnh, giảm tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi tử vong. Nguyên nhân của kết quả đó là nhờ: Sự quan tâm của Nhà nước và toàn xã hội, sự tăng trưởng kinh tế và ổn định xã hội, sự trợ giúp của các tổ chức quốc tế (UNICEF, WHO, UNDP, WB...) và quốc gia thông qua các chương trình, dự án, sự phối hợp chỉ đạo của các cấp, các đoàn thể quần chúng... Công tác chăm sóc sức khỏe của bà mẹ được tăng cường. Số lần khám thai trung bình của phụ nữ mang thai tăng từ 1,9 lần năm 1999 lên 2,3 lần năm 2004. Tỷ lệ phụ nữ mang thai được tiêm phòng uốn ván tăng từ 85,4% lên 91% trong thời gian tương ứng. Tỷ lệ phụ nữ khi sinh được cán bộ y tế chăm sóc năm 2005 đạt trên 95%, trong đó phụ nữ khu vực thành thị là 98%. Nhờ đó, tỷ lệ bà mẹ tử vong khi sinh đã giảm từ 0,12% năm 1994, xuống 0,095% năm 2000 và 0,08 năm 2005. Có được tiến bộ đó là do công tác chăm sóc và bảo vệ bà mẹ, trẻ sơ sinh được toàn xã hội quan tâm. Sức khỏe của phụ nữ được tăng cường về mọi mặt, các chỉ số cân nặng, chiều cao, tuổi thọ... của phụ nữ được cải thiện đáng kể. Mạng lưới y tế cơ sở được nâng cấp, nhất là vùng nông thôn, miền núi vùng xa, vùng sâu. Các dịch bệnh nguy hiểm được khống chế và đẩy lùi. Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách tài chính hỗ trợ công tác chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ sơ sinh, trong đó chính sách khám chữa bệnh không thu tiền đối với người nghèo và trẻ em dưới 6 tuổi là cụ thể nhất. Công tác phòng chống các bệnh nguy hiểm, nhất là HIV/AIDS có tiến bộ Thực hiện Chương trình phát triển Thiên niên kỷ, Chính phủ Việt Nam đã ban hành Chiến lược quốc gia phòng, chống HIV/AIDS đến năm 2010 và tầm nhìn 2020. Cùng với việc thành lập ủy ban quốc gia và Ban chỉ đạo phòng chống HIV/AIDS của các tỉnh, thành, cách thức triển khai đã có sự đổi mới cả về nhận thức và chỉ đạo thực tế. Không chỉ các cơ quan Nhà nước, các tổ chức xã hội mà cộng đồng và gia đình đều tham gia vào công tác phòng chống. Không chỉ tích cực phòng chống HIV/AIDS mà còn thực hiện chủ trương không kỳ thị, không phân biệt đối xử với những người nhiễm bệnh. Nhà nước luôn tạo điều kiện cho họ chữa bệnh, sống có ích và hòa nhập với cộng đồng và gia đình. Bước đầu chủ trương này đã đạt kết quả tốt. Đến nay, Việt Nam đã có 41 phòng xét nghiệm ở 34 tỉnh, thành phục vụ công tác giám sát, xét nghiệm và tư vấn cho các bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS. Hầu hết các tỉnh, thành đã có các khoa, phòng làm nhiệm vụ tiếp nhận, điều trị bệnh nhân AIDS. Các bệnh nguy hiểm khác được Nhà nước quan tâm đầu tư toàn diện để phát hiện và điều trị kịp thời. Bệnh sốt rét đã và đang được khống chế có hiệu quả. Số ca mắc bệnh trên 100 nghìn dân đã giảm từ 900 năm 1995 xuống còn 400 năm 2000 và 200 năm 2004, giảm 4,5 lần trong 10 năm. Chương trình phòng chống lao quốc gia đã thực hiện có hiệu quả. Trong giai đoạn 1997-2002 đã có gần 533 nghìn bệnh nhân các thể, chiếm 82% số bệnh nhân lao được phát hiện, vượt yêu cầu của WHO (70%) và 261 nghìn bệnh nhân lao phổi AEB (+) được điều trị với tỷ lệ khỏi bệnh là 92%. Đến nay, chiến lược DOTS đã được bao phủ 100% số huyện, thị cả nước. Môi trường sinh thái được bảo vệ. Thực hiện Chiến lược phát triển bền vững của Việt Nam đã được Chính phủ phê duyệt và được cụ thể hóa bằng nhiều chủ trương và chính sách nhằm đạt mục tiêu bảo vệ vững chắc môi trường, sinh thái đất đai, rừng, nước, không khí. Các mục tiêu phát triển bền vững được lồng ghép và gắn với các chỉ tiêu tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, ổn định xã hội của các ngành, các địa phương. Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 5 năm 2001-2005 đã bao gồm nhiều chỉ tiêu về bảo vệ môi trường. Nhờ vậy các ngành, các điạ phương và nhất là các doanh nghiệp đã khắc phục được xu hướng tăng trưởng bằng mọi giá, bước đầu đã có các chủ trương và giải pháp khai thác hợp lý và sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, phòng ngừa, ngăn chặn ô nhiễm môi trường sinh thái, đất đai, rừng, biển, nguồn nước... Tỷ lệ người dân Việt Nam sử dụng nước sạch tăng nhanh: từ 26,2% năm 1993 lên 40,6% năm 1998 và 70% năm 2005, trong đó tăng nhanh nhất là vùng nông thôn, từ 18% lên 29% và 62% trong các năm tương ứng. Như vậy ở khu vực nông thôn số lượng người dân được tiếp cận nguồn nước sạch năm 2005 đã vượt gấp 2 lần so với mục tiêu Thiên niên kỷ đề ra. Một thành tích khác đáng ghi nhận là tỷ lệ đất có rừng che phủ đã tăng nhanh trong 5 năm qua, từ 33,2% năm 2000 lên 36% năm 2003 và 38% năm 2005. Công tác bảo tồn thiên nhiên và bảo vệ đa dạng sinh học có bước tiến rõ nét. Các khu bảo tồn thiên nhiên tăng cả về số lượng và diện tích. Đến nay, diện tích được khoanh lại để bảo tồn và duy trì đa dạng sinh học đạt 8% tổng diện tích đất so với mức khuyến nghị 6%-10% của các tổ chức môi trường quốc tế. Trong số 126 khu bảo tồn (có 28 vườn quốc gia), nhiều khu đã được công nhận là di sản tự nhiên của tham gia, là khu dự trữ sinh quyển quốc tế và là di sản tự nhiên của ASEAN. Mối quan hệ hợp tác toàn cầu phát triển nhanh. Thực hiện đường lối và mở cửa và hội nhập với tham gia và khu vực, trong 5 năm 2001-2005, Việt Nam đã mở rộng quan hệ hợp tác toàn cầu trên nhiều lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh theo nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi vì hòa bình và phát triển của thế giới. Đến năm 2005, Việt Nam đã có quan hệ hợp tác kinh tế với trên 170 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó có 80 hiệp định thương mại và đầu tư song phương. Để đẩy nhanh quá trình hội nhập, Nhà nước Việt Nam đã ban hành mới, bổ sung nhiều bộ luật, các văn bản pháp quy, cơ chế chính sách phù hợp với thông lệ quốc tế. Chính phủ Việt Nam đã ban hành Quyết định số 46/TTg (tháng 4/2001) nhằm công bố lộ trình các chính sách thương mại cho cả giai đoạn 2001-2005. Nhờ đó, môi trường xuất nhập khẩu minh bạch và thông thoáng hơn. Kết quả là kim ngạch xuất nhập khẩu liên tục tăng nhanh: năm 2004 đạt 58,46 tỷ USD, tăng 94% so với năm 2000, trong đó kim ngạch xuất khẩu đạt 26,5 tỷ USD tăng 84%. Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu từ 3,8% năm 2001 lên 11,2% năm 2002; 20,8% năm 2003; 31,5% năm 2004. Từ năm 2003 Việt Nam đã thực hiện lộ trình giảm thuế nhập khẩu trên 1700 mặt hàng theo đúng lộ trình AFTA. Đến tháng 9 năm 2005 Việt Nam đã kết thúc đàm phán đa phương và song phương với EU và hầu hết các quốc gia về gia nhập WTO và đang tiếp tục đàm phán song phương với Hoa Kỳ. Hoạt động thu hút đầu tư nước ngoài hồi phục và ngày càng sôi động. Từ năm 2001 đến tháng 8-2005 Việt Nam đã thu hút 3313 dự án FDI với số vốn đăng ký 15,8 tỷ USD. Số dự án tăng vốn đầu tư ngày càng nhiều chứng tỏ môi trường đầu tư của Việt Nam đã và đang được cải thiện so với trước. Hoạt động du lịch khởi sắc. Lượng khách quốc tế đến Việt Nam năm 2004 đạt 2928 nghìn người, tăng 36,8% so với năm 2000, 8 tháng đầu năm 2005 đạt 2,3 triệu lượt người, tăng 22,7% so với cùng kỳ năm trước, ước cả năm đạt khoảng 3,5 triệu lượt người, tăng 20% so năm 2004. Nguyên nhân của những thành tựu đạt được trong 5 năm qua là kinh tế tăng trưởng cao, bình quân GDP tăng 7,5%, chính trị, xã hội ổn định, an ninh quốc phòng được giữ vững, thu nhập và đời sống dân cư ngày càng tăng. Và điều quan trọng là 8 Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ của LHQ trùng hợp với các mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế-xã hội của Việt Nam là “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” do Đảng Cộng sản Việt Nam đề xướng và lãnh đạo II. Khó khăn và thách thức Tuy đã đạt được những thành tựu to lớn trong việc thực hiện 8 Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ, nhưng hiện tại Việt Nam vẫn không còn ít khó khăn và thách thức. Biểu hiện ở chỗ: - Công tác xóa đói giảm nghèo chưa đều và chưa bền vững. Trong khi tỷ lệ hộ nghèo ở các vùng đồng bằng, đô thị lớn khá thấp (Đông Nam bộ năm 2004 chỉ còn 6,7%, vùng Đồng bằng sông Hồng 21,1% và vùng Đồng bằng sông Cửu Long còn 19,5%) thì các vùng nông thôn, vùng miền núi, vùng xa vẫn còn cao. Đặc biệt tỷ lệ hộ nghèo của người dân tộc thiểu số còn rất cao: 69,3% năm 2004. Tình trạng tái nghèo còn diễn ra ở nhiều vùng. Chênh lệch giàu nghèo giữa các nhóm dân cư, giữa nông thôn với thành thị, giữa các dân tộc có xu hướng gia tăng. Năm 2004, thu nhập bình quân 1 người 1 tháng của dân cư vùng Đông Nam bộ gấp 3,04 lần vùng Tây Bắc. Chênh lệch thu nhập giữa dân cư thành thị và nông thôn là 2,11 lần, giữa 10% số hộ có thu nhập cao nhất với 10% số hộ có thu nhập thấp nhất là 13,5 lần (so với 12,5 lần năm 2002 và 12 lần năm 1999). - Hệ thống giáo dục còn nhiều yếu kém nhưng khắc phục chậm. Tỷ lệ trẻ em bỏ học hoặc không đi học ở các vùng nghèo, vùng miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn cao. Chi phí cho học tập tại các cấp học cũng còn khá cao so với mức thu nhập của dân cư, nhất là các vùng có nhiều khó khăn. Tình trạng tái mù chữ vẫn còn diễn ra ở nhiều vùng, nhiều địa phương. Nhìn chung chất lượng dạy và học ở các trường, các cấp học vẫn chưa cao và chưa đều. Tình trạng dạy thêm học thêm vẫn chưa được khắc phục đã và đang tạo nên gánh nặng cho học sinh và gia đình. Chất lượng sách giáo khoa, học cụ, cơ sở trường lớp cũng nhiều bất cập. - Bình đẳng của phụ nữ trong một số lĩnh vực vẫn còn hạn chế. Tỷ lệ nữ có học hàm, học vị cao, phụ nữ làm công tác lãnh đạo và quản lý Nhà nước, các ngành, các doanh nghiệp vẫn còn thấp so với nam giới trong từng lĩnh vực. Ở các vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số tỷ lệ trẻ em nữ và phụ nữ tiếp cận giáo dục vẫn còn khó khăn so với trẻ em nam và nam giới. Nạn ngược đãi phụ nữ trong gia đình tại các vùng vẫn còn tồn tại. Tình trạng buôn bán phụ nữ và trẻ em gái ra nước ngoài, dịch vụ môi giới phụ nữ lấy chồng nước ngoài tiếp tục diễn biến phức tạp và để lại hậu quả nặng nề cho phụ nữ, gia đình và xã hội nhưng chậm khắc phục. - Dịch vụ y tế cũng còn nhiều yếu kém, công tác chăm sóc sức khỏe cộng đồng, nhất là phụ nữ và trẻ em còn bất cập. Vệ sinh an toàn lương thực thực phẩm chưa được kiểm soát chặt chẽ. Thuốc chữa bệnh và viện phí tăng cao trong khi thu nhập của dân cư còn thấp, vượt quá khả năng chi trả của nhân dân. Chính sách bảo hiểm y tế, thu viện phí và khám chữa bệnh cho người nghèo giải quyết chưa đồng bộ, chỉ đạo thực hiện chưa nhất quán. Tổ chức và hoạt động của y tế dự phòng còn nhiều bất cập. - Nạn dịch HIV/AIDS vẫn chưa kiểm soát tốt và còn tiềm ẩn nguy cơ lây lan, nhất là trong thanh niên (Tỷ lệ lây nhiễm HIV ở độ tuổi 20-29 trong tổng số người nhiễm HIV là 15% năm 1993 đã tăng lên 62% năm 2002 và chưa giảm). Hình thái nhiễm bệnh chủ yếu qua đường tiêm chích ma túy (60%) và mại dâm, nhưng hai tệ nạn này chưa được kiểm soát tốt nên có xu hướng tăng nhanh. Các biện pháp phòng, chống các bệnh truyền nhiễm khác cũng còn nhiều bất cập, hiệu quả thấp. - Môi trường, sinh thái tiếp tục diễn biến phức tạp. Hiện tượng khai thác bừa bãi và sử dụng lãng phí tài nguyên thiên nhiên, gây ô nhiễm môi trường đã và đang diễn ra phổ biến. Quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa diễn ra nhanh đang kéo theo sự ô nhiễm nguồn nước ngầm, nước mặt, không khí, đất đai, rừng, biển nhưng các chính sách và giải pháp khắc phục vẫn chưa đồng bộ, kém hiệu quả. Các khu vực giàu tài nguyên và đa dạng sinh học, rừng, môi trường biển và ven biển đang bị khai thác quá mức, trong đó rõ nhất là tình trạng phá rừng đầu nguồn, rừng phòng hộ, rừng ngập mặn để nuôi tôm trong những năm gần đây, đã gây hậu quả nghiêm trọng về môi trường. Trong khi đó, công tác quản lý Nhà nước về môi trường mới chỉ được thực hiện ở cấp TW, ngành, tỉnh, chưa có ở cấp huyện, quận, xã phường, doanh nghiệp, hộ gia đình. - Yêu cầu hội nhập và mở cửa nền kinh tế Việt Nam đang gặp lực cản lớn. Chất lượng và giá cả hàng hóa và dịch vụ còn kém sức cạnh tranh. Tỷ lệ thất nghiệp còn cao, giá nhân công rẻ, thu nhập của người lao động thấp. Cơ cấu và chất lượng lao động Việt Nam hiện nay chủ yếu là lao động phổ thông, chưa qua đào tạo, tay nghề thấp, sống ở vùng nông thôn, không phù hợp với yêu cầu sản xuất công nghiệp, dịch vụ chất lượng cao, quy mô lớn, chi phí thấp. Đa số lao động thất nghiệp ở thành thị và thiếu việc làm ở nông thôn là người nghèo, yếu thế về mọi mặt, rất khó khăn trong việc tìm kiếm việc làm mới trong bối cảnh hội nhập kinh tế và toàn cầu hóa với tốc độ nhanh. Do đó, việc đảm bảo cho người nghèo được hưởng thành quả của xu hướng toàn cầu hóa kinh tế là thách thức lớn nhất của Việt Nam trong quá trình hội nhập và mở cửa hiện nay cũng như trong những năm tới. Nguyên nhân của những bất cập trên đây có nhiều trong đó chủ yếu là do về cơ bản Việt Nam vẫn là một nước nghèo, kém phát triển. Trong những năm đổi mới tuy Việt Nam đạt tốc độ tăng trưởng khá cao nhưng quy mô của nền kinh tế vẫn còn nhỏ bé, các chỉ số bình quân nhân khẩu của nhiều sản phẩm công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ đều thuộc loại thấp của khu vực. Trình độ khoa học và công nghệ còn nhiều mặt lạc hậu cả trong sản xuất công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ. Năng suất lao động xã hội, năng suất đất đai còn thấp. Lao động thừa, việc làm thiếu, thu nhập của dân cư còn hạn chế nhiều mặt. Trong khi đó, thiên tai năm nào cũng xẩy ra trên diện rộng, hậu quả của chiến tranh và cơ chế bao cấp còn nặng nề, trình độ quản lý kinh tế-xã hội theo cơ chế thị trường của cán bộ công chức Nhà nước còn bất cập. Hệ thống luật pháp, chính sách chưa thật đồng bộ, công tác chỉ đạo điều hành của các cấp, các ngành còn hạn chế, hiệu quả thấp. Đây là những vấn đề đòi hỏi phải được quan tâm giải quyết một cách tích cực hơn nữa có như vậy mới đáp ứng được yêu cầu của Chương trình phát triển Thiên Niên Kỷ. Đồng thời sớm đưa Việt Nam đến mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. (Con số & Sự kiện, số 9, 2005) ***************** |
||
