Cho tới nay, những thị trường lao động xuất khẩu (LĐXK) lớn nhất của Việt Nam là: Malaixia với 24,6 nghìn LĐ; Đài Loan – 22,7 nghìn; Hàn Quốc – 12,1 nghìn; Lào – 6 nghìn, các nước khác – trên 2,1 nghìn. Năm 2005, các doanh nghiệp (DN) XKLĐ Việt Nam đã cố gắng tự vận động, tìm kiếm thêm được một số thị trường: Thị trường Dubai (thuộc các Tiểu Vương Quốc Arập Thống Nhất) được Công ty Airseco (thuộc Tổng Công ty Hàng không) làm rất hiệu quả. Theo đánh giá, nhu cầu của thị trường này rất lớn và không hạn chế số lượng, nhưng vẫn còn một số vướng mắc cần nghiên cứu nếu mở rộng. Năm qua, Công ty cũng đã thí điểm đưa 9 nông dân đi làm việc ở một trang trại tại Hawai (Hoa Kỳ) với mức lương 9,75 USD/giờ. Cho đến nay, công việc và đời sống của LĐ cũng đã ổn định. Tuy nhiên, các thị trường LĐ này mới được triển khai ở cấp nhỏ, lẻ, chưa mang tầm quốc gia và chỉ mang tính thí điểm.
Xuất khẩu lao động (XKLĐ) và chuyên gia là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước. XKLĐ không chỉ tạo công ăn việc làm, nâng cao thu nhập cho người LĐ mà còn mang lại nguồn thu ngoại tệ cho quốc gia. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII đã nhấn mạnh đến tầm quan trọng của XKLĐ. Nghị quyết Trung ương 4 (khoá VIII) cũng chỉ rõ: “Mở rộng XKLĐ trên thị trường đã có và trên thị trương mới, cho phép các thành phần kinh tế tham gia XKLĐ”.
Năm 2005, công tác XKLĐ của Việt Nam gặp nhiều khó khăn. Thị trường Malaixia không còn hấp dẫn bởi thu nhập không cao. Do các DN làm ăn không trung thực, đưa thông tin sai lệch về điều kiện làm việc khi tuyển dụng, công việc nặng nhọc; pháp luật nước sở tại nghiêm khắc, LĐ bị trục xuất… khiến người lao động mất lòng tin, cho đây là thị trường rất khó khăn, khắc nghiệt. Tình trạng LĐ vi phạm hợp đồng bỏ trốn cũng đang là vấn đề nổi cộm, bức xúc. Thị trường Nhật Bản cũng suy giảm do tình trạng LĐ bỏ trốn. Cục Quản lý LĐ ngoài nước cho biết, hai bên Việt - Nhật đang tăng cường hợp tác, tìm kiếm những biện pháp ngăn chặn tình trạng tu nghiệp sinh Việt Nam bỏ trốn. Trong thời gian tới phấn đấu tăng số lượng tu nghiệp sinh lên con số chục ngàn người/năm. Khách quan mà nói, công tác XKLĐ cũng chưa tương xứng với tiềm năng (bình quân giai đoạn 2001-2005 mới đưa được 58 nghìn người đi XK/năm), so với yêu cầu đưa 1 triệu LĐ đi XK/năm là còn quá khiêm tốn. Hơn nữa, phần lớn ta mới XKLĐ đi các thị trường có thu nhập thấp, công việc đơn giản, môi trường làm việc nặng nhọc, độc hại, kém hấp dẫn. Những thị trường cần nhiều LĐ có ngoại ngữ, có chuyên môn, kỹ thuật cao lại chưa đáp ứng. Các doanh nghiệp XKLĐ của nước ta không có nhiều thông tin, chủ yếu vẫn phải dựa vào trung gian, môi giới và phải trả phí môi giới khá cao, khiến thu nhập của người lao động bị ảnh hưởng. Các chế tài xử lý những cá nhân, tổ chức vi phạm chưa đủ mạnh, chưa có sức răn đe, nhất là chưa có sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan quản lý Nhà nước và doanh nghiệp XKLĐ.
Theo Hiệp hội XKLĐ Việt Nam, mục tiêu XKLĐ của cả nước trong năm 2006 dự kiến là 80 nghìn người, kỳ vọng nhiều ở các thị trường: Hàn Quốc, Đài Loan, Malaixia và một số thị trường mới khu vực Trung Đông. Cố gắng đẩy mạnh khai thác thị trường LĐ trên biển, tăng số lượng cung ứng thủy thủ vận tải, thuyền viên đánh cá; đầu tư cho đào tạo y tá, điều dưỡng viên đủ tiêu chuẩn chuyên, ngoại ngữ để cung ứng cho Đài Loan, đảo Síp, Nhật Bản và Bắc Mỹ. Sau chuyến thăm 1/2005 mới đây của Đoàn đại biểu Canada, Bộ trưởng Hạ tầng và giao thông tỉnh Albirta – ông Lely Olbert đã quan tâm tới lĩnh vực LĐ và dạy nghề của Việt Nam và cho rằng, Việt Nam có thể là một đối tác tiềm năng trong lĩnh vực này. Việt Nam đề nghị hai bên xúc tiến hợp tác ở cấp doanh nghiệp và xây dựng chương trình hợp tác lâu dài, hiệu quả, bền vững.
Để việc quản lý Nhà nước về XKLĐ theo kịp yêu cầu của cơ chế mới, trong năm 2006, Dự thảo Luật Lao Động xuất khẩu (gồm 8 chương, 62 điều), dự kiến sẽ được Chính phủ xem xét, cho ý kiến vào 2/2006. Đến tháng 5/2006 sẽ được thảo luận và đóng góp ý kiến tại kỳ họp thứ 9 Quốc Hội khoá XI và thông qua tại kỳ họp thứ 10. Theo Thứ trưởng Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội Nguyễn Lương Trào, Luật mới sẽ thanh lọc những doanh nghiệp XKLĐ yếu kém trong việc tìm kiếm, khai thác thị trường, đào tạo và quản lý LĐ đang làm việc ở nước ngoài, chỉ cho phép tồn tại những doanh nghiệp hoạt động tốt và có uy tín. Luật quy định, giấy phép sẽ bị thu hồi nếu: Doanh nghiệp ngừng hoạt động dịch vụ XKLĐ, giải thể hoặc phá sản; trong 18 tháng kể từ ngày được cấp giấy phép mà chỉ đưa được 100 LĐ đi làm việc ở nước ngoài; bị xử phạt hành chính do vi phạm quy định, gây thiệt hại về vật chất và tinh thần cho LĐ. Đây là một trong những điểm mới của Dự thảo Luật XKLĐ được Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội và Văn phòng Chính phủ giới thiệu ngày 13/1/2006.
Nguồn: Phụ nữ Việt Nam, 3/2/2006