Tìm kiếm nâng cao

Số truy cập:

CHÍNH SÁCH KHOA HỌC, CÔNG NGHỆ VÀ ĐỔI MỚI CỦA ITALIA

  
Dạng tài liệu : Bài trích bản tin
Ngôn ngữ tài liệu : vie
Tên nguồn trích : Tri thức và phát triển
Dữ liệu nguồn trích : 2006/Số 5/XU THẾ, DỰ BÁO, CHIẾN LƯỢC, CHÍNH SÁCH:
Đề mục : 23 Nghiên cứu tổng hợp từng nước và từng vùng
23.81
Từ khoá : Chính sách Khoa học Công nghệ Italia
Nội dung:

Khung tổng thể và xu thế chính sách khoa học, công nghệ và đổi mới
Chiến lược mới để cải thiện các hoạt động nghiên cứu ở Italia được xác định trong Hướng dẫn Chính sách KHCN, được Chính phủ Italia thông qua năm 2002. Hướng dẫn này đề cập đến việc thiết lập các ưu tiên, cho phép củng cố các vị thế Italia đã đạt được và vươn tới sự hoàn hảo trong các lĩnh vực công nghệ hứa hẹn nhất có giá trị gia tăng cao.
Cách tiếp cận chiến lược mới dựa trên cơ sở các yếu tố sau đây: các yếu tố cạnh tranh toàn cầu, động lực tăng trưởng kinh tế ở các nước công nghiệp hóa dựa vào tri thức, phân tích hệ thống đổi mới quốc gia và các cơ hội mà các chương trình nghiên cứu khoa học của Liên minh châu Âu tạo ra.
Chiến lược có các mục tiêu chính như sau:
1. Hỗ trợ năng lực hệ thống công nghiệp khai thác ưu thế cạnh tranh mà nghiên cứu và đổi mới tạo ra;
2. Nâng cao năng lực của Hệ thống Nghiên cứu Quốc gia tạo thuận lợi cho hiện đại hóa và đa dạng hóa hệ thống sản xuất và thành lập các hãng công nghệ cao;
Cách tiếp cận mới này được thực hiện thông qua các ưu tiên và hoạt động chính sách sau đây:
- Phát triển hơn nữa năng lực đổi mới của doanh nghiệp vừa và nhỏ để tạo điều kiện cho các hãng tham gia tích cực vào thị trường toàn cầu;
- Phát triển mở rộng các khu vực chế tạo truyền thống thông qua sử dụng các công nghệ đổi mới để đẩy nhanh sự chuyển đổi từ cạnh tranh về giá sang cạnh tranh trên cơ sở hàm lượng đổi mới của sản phẩm;
- Thành lập các trung tâm tài năng có khả năng thu hút đầu tư của Italia và đầu tư nước ngoài vào các lĩnh vực tăng trưởng dựa vào tri thức mới;
- Thúc đẩy, cũng bằng các công cụ tài chính đổi mới, sự thành lập và phát triển các doanh nghiệp công nghệ có khả năng thu nhận tri thức mới;
- Tăng cường khả năng quản lý doanh nghiệp hàn lâm của các nhà nghiên cứu của Nhà nước ở các lĩnh vực công nghệ cao;
- Xác định lại chiến lược tài trợ cho KHCN của Chính phủ, để củng cố tiềm năng đổi mới của các Khu vực miền Nam Italia, chủ yếu thông qua các hoạt động quản lý doanh nghiệp trên cơ sở quan hệ đối tác Nhà nước - tư nhân;
- Xác định lại nhiệm vụ của các Tổ chức Nghiên cứu Nhà nước, tập hợp các nhà nghiên cứu thuộc khu vực Nhà nước và tư nhân và thành lập các nhóm nghiên cứu chung về các chương trình có tác động mạnh về chiến lược;
- Tăng cường cơ hội việc làm cho các nhà nghiên cứu thuộc khu vực Nhà nước và tư nhân thông qua chương trình phát triển vốn nhân lực liên kết với các chương trình nghiên cứu cơ bản và/hoặc công nghiệp;
- Củng cố mối liên kết giữa khoa học và doanh nghiệp thông qua khả năng thuyên chuyển linh động hơn của các nhà nghiên cứu giữa khu vực Nhà nước và tư nhân, thành lập các phòng thí nghiệm tài năng về công nghệ của Nhà nước - tư nhân, các cơ sở ươm tạo nghiên cứu và các hãng vệ tinh;
- Tăng cường lượng và chất của vốn nhân lực thông qua cải thiện đào tạo cấp cao ở trường đại học bằng các nguồn lực từ các thực thể nghiên cứu của Nhà nước và các phòng thí nghiệm nghiên cứu công nghiệp;
- Thúc đẩy và hỗ trợ các chương trình chiến lược độc lập của các trường đại học của Italia có mục tiêu phát triển tài năng khoa học; áp dụng các biện pháp đổi mới trong lĩnh vực đào tạo tiên tiến.
Hướng dẫn này nêu bật nhu cầu chú trọng vào một số lĩnh vực vĩ mô: các hệ thống sản xuất, tin học và viễn thông, năng lượng, môi trường, giao thông vận tải, nông nghiệp-thực phẩm, y tế, di sản văn hóa.
Các lĩnh vực trên có tác động lớn về: kinh tế (thị trường và việc làm), xã hội (nhu cầu và nguyện vọng của công dân), chi tiêu của Nhà nước (cũng thể hiện qua giảm chi phí) và vị thế cạnh tranh của hệ thống quốc gia. Các lĩnh vực này cần được phát triển nhiều hơn thông qua phát triển các công nghệ có khả năng đặc biệt: công nghệ sinh học, tin học tiên tiến, vi điện tử và cảm biến, quang điện tử, lade, công nghệ sinh y học, công nghệ micro và nanô, công nghệ vật liệu kết cấu và chức năng, công nghệ hóa học, điện hóa học, động học chất lỏng và công nghệ đốt, điện tử, robot học và các hệ thống lập kế hoạch tiên tiến.
Chính phủ Italia đã xác định 4 trục chiến lược cơ bản để bảo đảm phát triển cân đối tất cả các hoạt động nghiên cứu cùng diễn ra trong quá trình tạo ra đổi mới:
- Thúc đẩy nhanh các ranh giới của tri thức: Italia đã củng cố và đẩy mạnh tài năng khoa học trong các lĩnh vực nghiên cứu cơ bản như vật lý năng lượng cao, vật lý thiên văn, vật lý vật chất, công nghệ sinh học, toán học và quang điện tử. Đầu tư vào nghiên cứu cơ bản sẽ cải thiện tiêu chuẩn khoa học của hệ thống trường đại học của Italia và cho phép quốc tế hóa rộng hơn bản thân hệ thống và các tổ chức khoa học của quốc gia. Các công cụ chính phân bổ tài trợ cho nghiên cứu trong trục thứ nhất là:
+ Các Chương trình Nghiên cứu có Tầm quan trọng Quốc gia: các dự án nghiên cứu đặc biệt hàng năm được Bộ Giáo dục, Đại học và Nghiên cứu tài trợ cho các trường đại học của Italia. Các dự án này được đồng tài trợ của các trường đại học, theo tỷ lệ thay đổi được xác định khi công bố yêu cầu. Các hoạt động, nội dung và phương pháp nghiên cứu được những người đề xuất tự do lựa chọn;
 + Quỹ tài trợ theo thông lệ cho các Thực thể Nghiên cứu của Nhà nước: hàng năm phân bổ cho các thực thể và tổ chức được Bộ Giáo dục, Đại học và Nghiên cứu tài trợ; bao gồm thông tin liên quan đến 2 năm tiếp theo;
 + Các Trung tâm Tài năng;
 + Học vị  Tiến sĩ Nghiên cứu;
  + Học bổng sau Tiến sĩ;
 + Thiết bị lớn.
- Hỗ trợ các hoạt động nghiên cứu nhằm phát triển các công nghệ chủ chốt có khả năng trong nhiều lĩnh vực, thông qua các chương trình ưu tiên "định hướng vào nhiệm vụ" để bảo đảm đào tạo các nhà nghiên cứu trẻ, tăng cường trao đổi các nhà nghiên cứu trong các mạng nghiên cứu, phát triển các phòng thí nghiệm chung của Nhà nước và tư nhân, phát triển khu vực sản phẩm giá trị gia tăng cho hệ thống công nghiệp của quốc gia, phát triển năng lực quản lý doanh nghiệp trong hệ thống nghiên cứu quốc gia (vệ tinh). Các công cụ chủ yếu để phân bổ tài trợ cho nghiên cứu trong trục này là:
+ Quỹ Đầu tư cho Nghiên cứu Cơ bản;
+ Quỹ Nghiên cứu Tổng hợp Đặc biệt: tài trợ cho các hoạt động đặc biệt có tầm quan trọng chiến lược của các cơ quan quản lý Nhà nước khác nhau (môi trường, giao thông vận tải, v.v…);
+ Quỹ tài trợ theo thông lệ của các Thực thể Nghiên cứu của Nhà nước:  hàng năm phân bổ cho các thực thể và tổ chức được Bộ Giáo dục, Đại học và Nghiên cứu tài trợ; bao gồm thông tin liên quan đến 2 năm tiếp theo;
+ Các thỏa thuận song phương;
+ Các trung tâm tài năng;
+ Học vị Tiến sĩ nghiên cứu
+ Học bổng sau Tiến sĩ:
+ Thiết bị lớn.
- Củng cố nghiên cứu công nghiệp và phát triển công nghệ: Tầm quan trọng chiến lược của củng cố nghiên cứu công nghiệp liên quan đến nhu cầu của ngành công nghiệp quốc gia có được khả năng cạnh tranh bền vững để đáp ứng thách thức toàn cầu hóa. Vì vậy, cần hỗ trợ tăng trưởng công nghệ tự phát và năng lực đổi mới của ngành công nghiệp quốc gia thông qua các biện pháp khuyến khích về thuế và tài chính; tái triển khai việc lập kế hoạch có đàm phán để với tới vị trí hàng đầu về công nghệ trong các lĩnh vực chiến lược của ngành công nghiệp quốc gia (mặt hàng công cụ, giao thông vận tải, ngành công nghiệp nông nghiệp-thực phẩm, di sản văn hóa, bảo vệ môi trường); xác định các chương trình với sự hợp tác của nhà cầm quyền khu vực để tăng cường khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ của địa phương. Các công cụ chủ yếu để phân bổ tài trợ cho nghiên cứu trong trục thứ ba này là:
+ Quỹ tài trợ cho Cơ sở Nghiên cứu: do Bộ Giáo dục, Đại học và Nghiên cứu quản lý, cung cấp biện pháp khuyến khích tài chính cho các chương trình nghiên cứu do ngành công nghiệp thực hiện;
+ Quỹ Đổi mới Công nghệ: do Bộ Hoạt động Sản xuất quản lý, tài trợ cho các hoạt động nghiên cứu liên quan đến đổi mới công nghệ;
+ Các Trung tâm Tài năng;
+ Học vị Tiến sĩ Nghiên cứu;
+ Học bổng sau Tiến sĩ;
+ Thiết bị lớn.
- Tăng cường năng lực đổi mới của doanh nghiệp vừa và nhỏ về quy trình và sản phẩm: các khu vực sẽ tham gia vào quá trình thông qua Kế hoạch Nghiên cứu Quốc gia để bao hàm các nhu cầu đặc thù của mỗi khu vực, thành lập và phát triển mạng đổi mới khắp Italia và tăng cường khai thác các kết quả nghiên cứu trong các lĩnh vực kinh tế và xã hội. Các công cụ: các công cụ chủ yếu để phân bổ tài trợ cho nghiên cứu trong trục này là:
 + Các thỏa thuận chương trình và các hoạt động khác để thực thi các dự án hợp tác ở cấp địa phương.
Trên cơ sở Hướng dẫn này, Kế hoạch Nghiên cứu Quốc gia được công bố vào đầu năm 2004.
Sự hỗ trợ của Chính phủ cho R&D và đổi mới của khu vực tư nhân
Chiến lược đề ra theo Hướng dẫn (2003-2006) nhằm thúc đẩy các hoạt động giải quyết một số vấn đề của hệ thống công nghiệp của Italia. Hệ thống này thực sự phân tán, chuyên môn hóa theo các lĩnh vực truyền thống và tập trung vào thị trường địa phương, không có đủ động lực thúc đẩy đổi mới. Các hoạt động nghiên cứu tư nhân cho do một số hãng nhỏ thực hiện, các hãng chưa có đến 50 nhân công tiến hành 3,2% các hoạt động nghiên cứu công nghiệp. Để khắc phục các vấn đề này, đã xác định một số hoạt động:
- Động lực đổi mới và phổ biến thông tin kỹ thuật, dịch vụ tư vấn và hỗ trợ cho các hãng, đề ra các biện pháp khuyến khích mở văn phòng kết nối công nghiệp trong các trường đại học và các tổ chức nghiên cứu của Nhà nước;
- Tài trợ đặc biệt cho trường đại học và các tổ chức nghiên cứu Nhà nước liên quan đến các dự án hợp tác với ngành công nghiệp và theo chất lượng kết quả;
- Tạo lợi ích tài chính cho các hãng hợp tác với trường đại học, tổ chức nghiên cứu Nhà nước và các trung tâm nghiên cứu tư nhân chất lượng cao;
- Tăng cường biện pháp khuyến khích để tuyển dụng các Tiến sĩ nghiên cứu;
- Tăng cường biện pháp khuyến khích cho việc thuyên chuyển tạm thời và lâu dài các nhà nghiên cứu từ trường đại học vào ngành công nghiệp;
- Tài trợ các sáng kiến chung giữa Chính phủ, Khu vực, tỉnh, đô thị và ngành công nghiệp, nhằm mục tiêu thúc đẩy các hãng mới khởi sự và các hãng vệ tinh trong lĩnh vực công nghệ cao.
Về tạo lợi ích tài chính, Sắc luật "Tech-Tremonti" được Quốc hội Italia thông qua ngày 30 tháng 9 năm 2003. Dự kiến, cho tài khóa 2004, miễn thuế thu nhập của doanh nghiệp đến 10% chi phí R&D (nghiên cứu ứng dụng), đăng ký vào các khoản cố định phi vật chất, cho đổi mới sản phẩm, quy trình và tổ chức.
Sắc luật còn tạo lợi ích tài chính cho các nhà nghiên cứu Italia ở nước ngoài, nhằm tạo thuận lợi để họ trở về nước và bắt đầu hoạt động nghiên cứu trong 5 năm tới. Thu nhập hoặc chi trả cho giám đốc hoặc nhà nghiên cứu chỉ đánh thuế trong 10% thuế trực tiếp và miễn toàn bộ nếu liên quan đến IRAP (Thuế hoạt động sản xuất của khu vực) khi không ảnh hưởng đến sản xuất đơn thuần.
Đánh giá các dự án nghiên cứu của trường đại học
Cho đến năm 1993, nghiên cứu ở trường đại học do Bộ Trường Đại học và Nghiên cứu Khoa học và Công nghệ tài trợ thông qua hai kênh: Kênh thứ nhất do cấp địa phương quản lý (60% kinh phí) và kênh thứ hai (40%) được sử dụng để hỗ trợ các dự án liên trường đại học có tầm quan trọng quốc gia, do Hội đồng Trường Đại học Quốc gia của Ủy ban Tư vấn các ngành khoa học của Bộ Trường Đại học và Nghiên cứu Khoa học và Công nghệ quản lý. Sự phân bố theo kênh sau không hiệu quả.
Một quy trình mới được đưa ra năm 1997, đề nghị việc đánh giá các đề xuất dự án do một ủy ban gồm các nhà bảo lãnh (7 chuyên gia) và 2 hoặc 3 trọng tài vô danh, là người trong nước và nước ngoài. Đây là lần đầu tiên các trường đại học Italia được đánh giá một cách hệ thống. Theo hệ thống mới, một Chỉ dẫn các trọng tài được soạn thảo, các đề xuất dự án cần đệ trình bằng tiếng Italia và tiếng Anh, và quy trình từ xa được chấp nhập để bảo đảm thông tin giữa các nhà bảo lãnh và các trọng tài được bảo mật và nhanh chóng. 
Năm 1998, 1645 dự án được đệ trình lên Bộ bao gồm khoảng10000 nhóm nghiên cứu, trung bình có 44 nhà nghiên cứu trong một dự án. Các dự án được 2000 chuyên gia trong số 12000 chuyên gia trong danh sách Chỉ dẫn (4300 người Italia và 7700 người nước ngoài) đánh giá. So sánh các kết quả của năm 1998 với kết quả của năm ngoái, đã có một số sự điều chỉnh tốt hơn về "chất lượng" của đề xuất đệ trình:
- Giảm được 20% các đề xuất đệ trình;
- Giảm cơ bản số lượng các nhóm nghiên cứu trong một chương trình, theo khuyến nghị của Bộ nhằm thiết lập các nhóm nghiên cứu theo chuyên môn hơn là theo mạng chủ đề;
- Giảm 12% tổng kinh phí yêu cầu, mặc dù phần tài trợ tối đa của Bộ tăng 60-70%;
- Tập trung nguồn lực vào số lượng dự án lớn hạn chế, được chọn lọc trên cơ sở chất lượng;
-  Hỗ trợ cải thiện khả năng của các nhà khoa học Italia về cạnh tranh để nhận tài trợ trên cơ sở tiêu chuẩn quốc tế;
- Chứng minh có thể áp dụng cách đánh giá hiệu quả cho các trường đại học.
Nguồn nhân lực KHCN
Cải cách giáo dục KHCN
Cải cách trường đại học mới đây củng cố mối quan hệ tốt hơn với thị trường lao động thông qua việc đưa ra hàng loạt đợt thực tập ở các hãng cho nhiều lĩnh vực nghiên cứu. Ngoài ra, thiết lập hướng đào tạo sau-trung học mới (Đào tạo Kỹ thuật và Nghề bậc cao kết hợp - Integrated Technical and Professional Higher Education), thể hiện phương pháp lựa chọn chuyên nghiệp hơn cho trường đại học kết nối đào tạo chuyên ngành với trường trung học và trường đại học ở quy mô khu vực. Ngoài ra, đào tạo Tiến sĩ thường xuyên yêu cầu 1 năm "kinh nghiệm bên ngoài", trong một số lĩnh vực tương ứng với đào tạo chuyên ngành ngoài môi trường trường đại học.
Vấn đề của hệ thống tiến sĩ cho đến nay là thời gian nghiên cứu tiến sĩ quá dài (kể từ lúc bắt đầu học đại học cho đến Tiến sĩ không dưới 8 năm) và sự chuyên môn hóa nghiên cứu cao, vì vậy thiếu tính mềm dẻo để đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động. Khu vực công nghiệp không thiết tha lắm với việc thuê các Tiến sĩ, vì họ được coi là quá chuyên sâu, "quá đắt" và già. Theo truyền thống từ trước đến nay, Tiến sĩ được định hướng vào sự nghiệp hàn lâm.
Giải pháp khả dĩ là làm cho cơ cấu đa ngành hiện tại hoạt động mạnh hơn, rút ngắn giai đoạn đào tạo và khuyến khích cơ chế đào tạo mềm dẻo hơn dựa vào sự liên kết của các trường đại học với các tổ chức nghiên cứu của Nhà nước hoạt động trong các lĩnh vực mới, theo các cải cách của trường đại học và tổ chức nghiên cứu và trong Kế hoạch Nghiên cứu của Quốc gia. Các cải cách và Kế hoạch này nhấn mạnh sự cần thiết phải xóa bỏ khoảng cách giữa viện hàn lâm (khoa học), nghiên cứu và sản xuất. Việc áp dụng các cải cách này có một số trở ngại hầu hết là do khó khăn về nhận thức do tính phức tạp về kinh tế-xã hội, khoa học và kỹ thuật gắn với các hoạt động liên ngành.
Các hợp đồng với địa phương đã được thực hiện để thiết lập quan hệ đối tác hỗ trợ sinh viên tốt nghiệp đào tạo tại doanh nghiệp của các trường đại học và tổ chức nghiên cứu Nhà nước. Hội đồng các Giám hiệu (Crui) và Hiệp hội các nhà công nghiệp Italia (Confindustria) đã ký một thỏa thuận chính thức cam kết cả hai tổ chức sẽ cùng hợp tác hoạt động để củng cố sự hợp tác giữa trường đại học và ngành công nghiệp.
Số liệu thống kê hiện nay
Số sinh viên mới tại các trường đại học Italia năm 2003-2004 là 347.000. Số sinh viên học các ngành khoa học, sau một thời gia dài suy giảm liên tục cho đến 2000-2001, đã tăng trong 2003-2004 so với khóa học truớc:  khoa học sinh học 16%, khoa học Trái đất 14,6%, hóa học 10%.
Năm 2001-2002 có 4.665 sinh viên đăng ký học Tiến sĩ về khoa học, toán học và vật lý và 783 Tiến sĩ đã được nhận học bổng. Từ 1990, số lượng Tiến sĩ về khoa học tăng không ngừng, từ 325 năm 1990 lên 821 năm 2000.
Giảm khoảng cách phân biệt giới
Mặc dù tỷ lệ nữ học đại học tiếp tục tăng trong thập niên qua, thậm chí vượt tỷ lệ nam học đại học, nữ giới vẫn đại diện cho số ít trong lĩnh vực khoa học và công nghệ. Tuy nhiên, Italia là một trong các nước OECD có tỷ lệ nữ là Tiến sĩ Khoa học và Kỹ thuật cao nhất. Tuy nhiên, hiện nay Italia không có biện pháp chính sách đặc biệt nào để tăng cường sự tham gia của nữ giới vào hệ thống khoa học.
(OECD Outlook 2004)
***********

 

 
Trung tâm Thông tin Khoa học Công nghệ Quốc gia