Quan hệ Thương mại và Đầu tư giữa EU và Việt Nam |
||
| Dạng tài liệu | : | Bài trích bản tin |
| Ngôn ngữ tài liệu | : | vie |
| Tên nguồn trích | : | Tri thức và phát triển |
| Dữ liệu nguồn trích | : | 2006/Số 3/HỘI NHẬP VÀ PHÁT TRIỂN: |
| Đề mục | : | 06.51 Kinh tế thế giới. Quan hệ kinh tế thế giới. |
| Từ khoá | : | EU và Việt Nam |
| Nội dung: | ||
|
Giới thiệu chung về hợp tác thương mại, đầu tư và những hỗ trợ kỹ thuật của EU cho Việt Nam.
Khuôn khổ Dệt may Việt Nam và EU khởi đầu quan hệ thương mại song phương bằng Hiệp định Dệt may ký năm 1992 cho phép hàng dệt và may mặc của Việt nam tiếp cận thị trường EU. Các lần sửa đổi hiệp định kế tiếp nhau vào năm 1995, 1997, 2000 và 2003 đã mở rộng hạn ngạch cho hàng dệt may. Lần sửa đổi năm 2000 kết hợp các yếu tố về tiếp cận thị trường bên ngoài lĩnh vực dệt may. Hiệp định Dệt may và Tiếp cận Thị trường năm 2003 là lần sửa đổi gần đây nhất đối với hiệp định năm 1992 và bao gồm những điều khoản rộng rãi hơn về tiếp cận thị trường phi hàng dệt, bao gồm cả dịch vụ. Tháng 12 năm 2004, EU đồng ý ngừng áp dụng các hạn chế bằng hạn ngạch đối với hàng dệt may nhập khẩu từ Việt Nam qua Hiệp định “Thu hoạch sớm”. Hiệp định này tiếp theo việc kết thúc đàm phán tiếp cận thị trường song phương trong khuôn khổ gia nhập WTO của Việt nam. Đổi lại, Việt nam đồng ý chính thức hóa cam kết không phân biệt đối xử với các công ty EU và một số biện pháp mở cửa thị trường trong các lĩnh vực mà doanh nghiệp EU quan tâm. Hiệp định Hợp tác Hiệp định Hợp tác giữa Việt Nam và Ủy ban châu Âu được ký năm 1995 và có hiệu lực từ năm 1996. Hiệp định này mở rộng quan hệ thương mại sang những hàng hóa bên ngoài lĩnh vực dệt may trong khi dành quy chế tối huệ quốc hai chiều cho thương mại hàng hóa và quyền sở hữu trí tuệ. Hiệp định cũng tạo ra cơ sở cho một quan hệ trên diện rộng bao gồm hợp tác phát triển và hợp tác kinh tế cũng như đối thoại nhân quyền. Nó cũng thiết lập một khuôn khổ chính thức cho đối thoại giữa Việt Nam và Ủy ban châu Âu với Ủy ban Hỗn hợp họp 2 năm một lần và các Nhóm Công tác chuyên trách về Thương mại và Đầu tư, Hợp tác và Nhân quyền. Nhóm Công tác về Thương mại và Đầu tư Nhóm Công tác về Thương mại và Đầu tư họp tại Hà Nội hoặc Brúc-xen hai năm một lần, thường là vào các năm xen kẽ với cuộc họp Ủy ban Hỗn hợp. Diễn đàn này quy tụ các quan chức của Việt Nam và Ủy ban châu Âu để trao đổi quan điểm về các khía cạnh khác nhau trong quan hệ thương mại và đầu tư EU-Việt Nam. Cuộc họp gần đây nhất diễn ra tại Brúc-xen vào tháng 11 năm 2003. Đối thoại bao quát một phạm vi rộng, bao gồm các khía cạnh chính sách, tiêu chuẩn và khuôn khổ quy định cho quan hệ song phương. Cuộc họp mới đây nhất được tổ chức tại Hà nội vào tháng 4 năm 2005. GSP Việt Nam đủ tiêu chuẩn được hưởng Hệ thống Ưu đãi Thuế quan Phổ cập của EU (gọi tắt là GSP), theo hệ thống này các nước đang phát triển được hưởng mức thuế cắt giảm đối với hàng xuất khẩu của các nước này vào thị trường EU. Mức thuế cho các nước được hưởng quy chế GSP được giảm 3,5% so với mức tối huệ quốc theo nguyên tắc chung hoặc giảm 20 % so với mức tối huệ quốc đối với các sản phẩm nhạy cảm. Quy chế GSP sửa đổi cho giai đoạn 2005-2008 hiện đang được thảo luận trong EU và dự kiến sẽ có hiệu lực vào tháng 4 năm 2005. Quy chế GSP mới có các quy định đơn giản hơn so với quy chế cũ và bao gồm một số đổi mới cho việc áp dụng các quy định GSP. Việt Nam sẽ được hưởng mức ưu đãi tương tự như trong quy chế GSP hiện thời. Gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) Năm 1995, Việt nam nộp đơn xin gia nhập WTO. Ban Công tác tập hợp khoảng 28 thành viên WTO đã bày tỏ sự quan tâm đến đàm phán với Việt Nam. Ban Công tác được thiết lập năm 1995 và đã họp 9 lần từ năm 1998 đến năm 2004. Cuộc họp tiếp theo của Ban Công tác theo kế hoạch sẽ diễn ra vào tháng 3 năm 2005. Ban Công tác xử lý kênh đa phương và đảm bảo để cơ chế thương mại của Việt Nam tuân thủ tất cả các quy định của WTO. Đồng thời, Việt nam cũng đàm phán kênh song phương với các thành viên riêng lẻ của WTO trong đó mức thuế đối với các sản phẩm và vấn đề tiếp cận thị trường cho dịch vụ được thảo luận. Tháng 10 năm 2004, Liên minh châu Âu kết thúc đàm phán song phương về tiếp cận thị trường với Việt Nam, và như vậy trở thành đối tác thương mại lớn đầu tiên của Việt Nam hoàn thành công việc này cũng như thúc đẩy quá trình gia nhập cho đến nay vẫn chậm chạp của Việt Nam. Mức thuế trung bình mà Việt Nam sẽ áp dụng là khoảng 16% đối với hàng công nghiệp, 22% đối với thủy sản và 24% đối với hàng nông nghiệp. Về dịch vụ, Việt Nam sẽ thực hiện cam kết trong một loạt lĩnh vực bao gồm giao thông, các dịch vụ tài chính, bưu chính, xây dựng, phân phối, các dịch vụ môi trường, chuyên môn và các dịch vụ kinh doanh khác, viễn thông và du lịch. Các cam kết bao gồm cung cấp các dịch vụ qua biên giới và thành lập cơ sở thương mại. Sáng kiến Thương mại Liên Khu vực EU-ASEAN Năm 2003, Ủy ban châu Âu đề xuất với các bộ trưởng kinh tế ASEAN Sáng kiến Thương mại Liên Khu vực EU-ASEAN (TREATI), đây là phần kinh tế trong Chiến lược Toàn diện về Đông Nam Á của Ủy ban châu Âu được nêu trong thông báo của Ủy ban “Quan hệ đối tác mới với Đông Nam Á”. TREATI là kế hoạch hành động nhằm thiết lập một cơ chế đối thoại chính thức giữa khu vực với khu vực theo một chương trình nghị sự đã thỏa thuận trước về các vấn đề liên quan đến thương mại, đặc biệt là các hàng rào phi thuế quan. TREATI đề xuất thảo luận trước hết các thành phần có thể gây bàn cãi nhất của một Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) sau này, với sự tham gia của tất cả các bên liên quan. Các nhà điều hành và các nhà hoạch định chính sách từ các nước thành viên ASEAN và Ủy ban châu Âu gặp gỡ với các đại diện liên quan của khu vực tư nhân để thảo luận những ảnh hưởng thực tế của chính sách và các thay đổi chính sách. Các hoạt động được tổ chức cho đến nay trong khuôn khổ TREATI bao gồm các hội thảo toàn khu vực về An toàn Thực phẩm và REACH (chính sách của EU về hóa chất) và đã thu hút được số lượng lớn người tham gia từ tất cả các ngành và quốc gia liên quan. Các bộ trưởng ASEAN thể hiện mong muốn ưu tiên tập trung các hoạt động của TREATI vào 11 lĩnh vực được xác định cho quá trình hội nhập ASEAN bằng con đường nhanh nhất. Vì vậy, trong năm 2006 sẽ tiến hành các hoạt động của TREATI về đầu tư, các sản phẩm gỗ, điện tử, nông sản và thủy sản. Hỗ trợ Liên quan đến Thương mại Ủy ban châu Âu hỗ trợ Việt Nam bằng một chương trình hợp tác phát triển lớn trong đó bao gồm một phần quan trọng về Hỗ trợ Liên quan đến Thương mại (TRA). Ban Thương mại của Phái đoàn giám sát và hướng dẫn về mặt kỹ thuật đối với các hoạt động do các dự án TRA thực hiện. Có thể xem các chi tiết về chương trình và dự án trong phần hợp tác phát triển trên website của Phái đoàn. Các Công cụ Bảo vệ Thương mại Ủy ban châu Âu tiến hành các cuộc điều tra bảo vệ thương mại thay mặt cho các nước thành viên của Liên minh châu Âu, đặc biệt để chống các hoạt động bán phá giá và trợ cấp làm tổn hại công nghiệp của châu Âu. Ủy ban cũng có thể áp đặt các biện pháp tự vệ sau khi có sự gia tăng đột ngột hàng nhập khẩu vào EU của một sản sản phẩm cụ thể nào đó. Các vụ kiện bảo vệ thương mại của Ủy ban châu Âu được tiến hành theo các thủ tục thường lệ được thiết lập trong các hiệp định của WTO và được xây dựng trong pháp luật thực thi liên quan của EU. Trong năm 2004 có 6 cuộc điều tra chống bán phá giá liên quan đến các công ty đóng tại Việt nam đã được tiến hành đối với xe đạp, đèn, tuýp thép và cút thép, vòng khuyên kim loại. Các chuyến thăm liên quan đến thương mại ở cấp cao. Cao Ủy về Y tế và Bảo vệ Người Tiêu dùng David Byrne đã sang thăm Việt Nam tháng 3 năm 2004. Bên lề Hội nghị Thượng đỉnh ASEM tại Hà Nội, Cao Ủy Thương mại Pascal Lamy đã kết thúc các cuộc đàm phán gia nhập WTO về tiếp cận thị trường giữa Việt Nam và EU. Bộ trưởng Thương mại Trương Đình Tuyển sang thăm Brúc-xen hai lần trong năm 2004. Các luồng Thương mại và Đầu tư Năm 2004, EU vẫn là điểm đến đầu tiên cho hàng xuất khẩu của Việt Nam, với 18 % tổng giá trị xuất khẩu, ước tính 5,047 tỷ euro. Tổng kim ngạch trao đổi thương mại hai chiều lên đến 7,146 tỷ euro. EU nhập khẩu từ Việt nam chủ yếu là giầy dép (43%), hàng dệt (14%), đồ gỗ (9%), cà phê (6%) thủy sản (3%). EU là thị trường nhập khẩu giầy dép lớn nhất của Việt Nam với giá trị lên đến 2,159 tỷ euro trong năm 2003. Hàng nhập khẩu từ Việt Nam vào EU đã tăng vọt tới 12 %, so với mức tăng thấp 2% trong năm 2003. Việt Nam là nhà cung cấp giầy dép lớn thứ hai của EU với 19 % tổng nhập khẩu của EU. Năm 2004, Việt Nam xuất khẩu sang EU tổng giá trị hàng dệt may là 700 triệu euro, chiếm 14 % tổng hàng xuất khẩu sang EU. EU là thị trường lớn thứ hai sau Mỹ cho hàng dệt của Việt Nam. Từ năm 2005 trở đi, khi hạn ngạch dệt may được xóa bỏ cho Việt Nam, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may dự sẽ tiếp tục tăng. Đến tháng 7 năm 2004 đã có 153 doanh nghiệp Việt Nam đủ tư cách xuất khẩu thủy sản sang EU. Mặc dù kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang EU tương đối nhỏ (chiếm 2% tổng giá trị xuất khẩu của Việt Nam sang EU) nhưng việc tuân thủ các tiêu chuẩn an toàn thực phẩm chặt chẽ của EU đã nâng cao uy tín hàng thủy sản Việt Nam, giúp sản phẩm này thâm nhập vào các thị trường lớn khác trong đó có Mỹ và Nhật Bản. Từ khi có các vụ kiện chống phá giá cá da trơn và tôm, Việt Nam đã xem thị trường EU là một thị trường đầy tiềm năng lớn cho các sản phẩm của mình. Nguồn: Phái đoàn Uỷ ban Châu Âu tại Việt Nam, 6/1/2005 |
||
