Dấu hiệu ra đời của các ngành công nghiệp phụ trợ ở Việt Nam
Đã có rất nhiều nguồn thông tin nói rằng các ngành công nghiệp phụ trợ ở Việt Nam không tồn tại, hoặc chỉ ở mức độ sơ khai. Tuy nhiên, các nhận định đó không hoàn toàn sát thực. Trên thực tế, các ngành công nghiệp phụ trợ ở Việt Nam hiện nay đang được thai nghén và bắt đầu phát triển. Nhận định này được đưa ra dựa trên những ba bằng chứng, đó là: (i) Luồng đầu tư trực tiếp từ nước ngoài tăng lên; (ii) Việc cải cách các doanh nghiệp nhà nước đang được tiến hành nhanh chóng và (iii) Sự gia tăng vai trò của các doanh nghiệp tư nhân.
Tuy nhiên, để thúc đẩy sự phát triển của các ngành công nghiệp phụ trợ đòi hỏi Chính phủ Việt Nam phải có khuôn khổ chính sách phù hợp. Nhưng điều quan trọng hơn cả chính là sự sẵn sàng của các doanh nghiệp, kể cả doanh nghiệp Nhà nước và tư nhân, trong việc nhận biết tầm quan trọng của các ngành công nghiệp phụ trợ, nhằm tăng cường khả năng cạnh tranh của mình và trong việc xây dựng và phát triển những ngành như thế từ nỗ lực của chính bản thân họ. Các biện pháp chính sách và sự tích cực chủ động mang tính liên tục sẽ góp phần làm tăng nhận thức và sự sẵn sàng của các doanh nghiệp Việt Nam đối với mục tiêu này.
Hiện trạng tại Việt Nam
Quan niệm về ngành công nghiêp phụ trợ của các cơ quan Chính phủ
Mặc dù nhận thức được tầm quan trọng của các ngành công nghiệp phụ trợ, nhưng hầu hết quan chức của các Bộ và cơ quan Chính phủ vẫn mơ hồ về khái niệm các ngành công nghiệp phụ trợ. Một phần của nguyên nhân này là người ta đã quá quen với cách sản xuất tích hợp theo chiều dọc của doanh nghiệp Nhà nước - mà đã từng là trụ cột của nền kinh tế - là mọi linh phụ kiện đều được sản xuất và chế tạo trong nội bộ doanh nghiệp đó. Một nguyên nhân khác là do không có đầy đủ khái niệm mang tính pháp lý đối với các ngành công nghiệp phụ trợ, vì thế việc thực thi một cách có hiệu quả các biện pháp thúc đẩy ngành này vẫn còn hạn chế. Bản thân Chính phủ Việt Nam vẫn không biết làm thế nào để xác định đúng ngành này.
Phân cực hoá và chuyên môn hoá của các doanh nghiệp nhà nước (SOEs)
Hiện nay, tuỳ thuộc vào chất lượng, khả năng và phương thức quản lý, các doanh nghiệp Nhà nước đang bắt đầu phân hoá thành những doanh nghiệp thành công và doanh nghiệp thất bại. Một số doanh nghiệp Nhà nước hoạt động có hiệu quả cao đã thực hiện cổ phần hoá và tự chủ về quản lý. Thậm chí, nhiều lãnh đạo làm việc một thời gian dài trong các công ty Nhà nước đã bắt đầu nhận thức và hoà nhập vào những cơ hội kinh doanh mới. Bên cạnh đó, một số doanh nghiệp Nhà nước có quy mô lớn đã bắt đầu bỏ hình thức sản xuất tích hợp theo chiều dọc trước đây và chuyển sang hình thức chuyên môn hoá sản phẩm và quy trình mà họ có khả năng cạnh tranh. Thậm chí, một số doanh nghiệp Nhà nước đã nỗ lực xây dựng một mạng lưới sản xuất dựa trên chuyên môn hoá. Ví dụ, Nhà máy Diesel Sông Công (DISOCO) ở miền Bắc chuyên sản xuất động cơ diesel cho tàu thuỷ và máy nông nghiệp. Đây từng là một nhà máy lớn có cấu trúc sản xuất tích hợp theo chiều dọc đối với nhiều sản phẩm được sản xuất trong dây chuyền lớn của mình, ví dụ như cán, đúc, xử lý bề mặt kim loại, nung, và lắp ráp. Tuy nhiên, hiện nay, Nhà máy này lại tập trung vào việc cán ép kim loại, trong khi một doanh nghiệp ngay gần bên, đó là Công ty Phụ tùng Máy móc số 1 (FUTU1), thực hiện công đoạn cải thiện chức năng của máy móc. Kết quả là, 2 doanh nghiệp Nhà nước này hợp tác với nhau dựa trên quá trình chuyên môn hoá. Bên cạnh đó, DISOCO hy vọng rằng công việc cán ép kim loại này không chỉ phục vụ hoạt động kinh doanh của mình, mà còn có thể nhận được đơn đặt hàng từ các nhà lắp ráp xe máy của Nhật Bản. Để thực hiện được điều đó, doanh nghiệp này đã đầu tư vào trang thiết bị mới và cải thiện công nghệ sản xuất. Sự thay đổi như thế chưa từng xảy ra trong các doanh nghiệp Nhà nước có quy mô lớn trong quá khứ. Mặt khác, FUTU1 cũng sử dụng máy móc chính xác cao để cung cấp linh, phụ kiện cho một doanh nghiệp xe máy Nhật Bản. Không như các doanh nghiệp Nhà nước truyền thống, xưởng sản xuất của nhà máy này rất sạch sẽ và được bố trí hợp lý, hoạt động sản xuất diễn ra với cường độ cao.
Ngược lại, một số doanh nghiệp Nhà nước khác lại không thể làm được những việc như thế bởi cung cách quản lý của họ quá lỗi thời và thường xuyên đòi hỏi sự hỗ trợ của Nhà nước khi họ gặp khó khăn. Các nhà quản lý những doanh nghiệp này cũng thiếu tinh thần kinh doanh và coi công việc của họ chỉ là tạm thời trước khi họ được luân chuyển sang công tác khác hoặc về hưu.
Sự vươn lên của các doanh nghiệp vừa và nhỏ (đặc biệt ở miền Nam)
Số lượng doanh nghiệp tư nhân Việt Nam đã tăng rất nhanh trong thời gian gần đây, một phần là do Luật Doanh nghiệp mới năm 2000 đã tự do hơn và đơn giản hoá thủ tục thành lập doanh nghiệp. Tại miền Nam, câu chuyện về các doanh nghiệp tư nhân thậm chí còn nhiều tình tiết hơn và một số doanh nghiệp tư nhân ở đây đã rất thành công trong các lĩnh vực kinh doanh như làm bánh, sản xuất giày dép và các dụng cụ làm bếp. Ví dụ, một nhà sản xuất bình nước bằng nhôm và thép không gỉ đã sử dụng công nghệ của một doanh nghiệp nước ngoài, kết quả chất lượng sản phẩm tăng lên rõ rệt, thậm chí những sản phẩm đó đã giúp doanh nghiệp này xây dựng được thương hiệu riêng cho mình. Hiện nay, doanh nghiệp này đang xây dựng một nhà máy lớn tại ngoại vi của Tp. Hồ Chí Minh để mở rộng hoạt động kinh doanh của mình. Bằng việc áp dụng công nghệ trong ngành sản xuất, doanh nghiệp này đang cung cấp phần ruột nồi cơm điện cho các doanh nghiệp sản xuất hàng điện tử gia dụng của Nhật Bản.
Trong hoạt động tạo khuôn nhựa, một số doanh nghiệp trong nước đã làm chủ được phương thức quản lý chất lượng thông qua việc cung cấp cho những doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Chất lượng sản phẩm của họ hiện nay được đánh giá cao. Tương tự ở ngành đúc, một Giám đốc điều hành của một công ty đã nhận ra tầm quan trọng của những sản phẩm đúc có chất lượng cao. Kết quả là, doanh nghiệp này đã sử dụng công nghệ của các doanh nghiệp Nhật Bản và Đức và tăng mức sản xuất sản phẩm đúc cho ngành tạo khuôn nhựa và cán ép nhựa. Hiện nay, doanh nghiệp này được Hiệp hội Nhựa bình chọn là doanh nghiệp xuất sắc.
Đầu tư nước ngoài chủ động, đặc biệt là các nhà đầu tư Đài Loan
Gần đây, đầu tư trực tiếp nước ngoài từ Đài Loan và Hàn Quốc tăng lên nhanh chóng. Đặc biệt, các doanh nghiệp của Đài Loan rất chủ động không chỉ trong đầu tư mà còn thực hiện nhiều dạng liên kết kinh doanh, bao gồm cả việc cấp vốn cho các doanh nghiệp trong nước của Việt Nam. Như ông Chủ tịch Uỷ ban Phát triển Ngoại thương Trung quốc (CETRA) đã nói, phạm vi hoạt động của các doanh nghiệp Đài Loan rộng hơn nhiều so với thống kê chính thức trong các Báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
Ở miền Nam, các nhà lắp ráp xe máy Đài Loan kéo theo những nhà sản xuất linh kiện của họ đến Việt Nam. Họ tập trung vào các khu công nghiệp do người Đài Loan xây dựng nhằm tích tụ các ngành công nghiệp phụ trợ cho ngành xe máy. Thậm chí, một số doanh nghiệp còn có cả nhân viên là người Nhật nhằm tiếp thị linh phụ kiện đến các nhà lắp ráp Nhật Bản đang hoạt động tại Việt Nam. Chính những nỗ lực đó mà các nhà sản xuất xe máy Nhật Bản bắt đầu dựa vào nguồn cung ứng linh phụ kiện từ các doanh nghiệp Đài Loan. Tuy nhiên, một số báo cáo cho thấy, các nhà cung ứng linh phụ kiện Đài Loan thường không đáp ứng được yêu cầu về chất lượng của các nhà lắp ráp xe máy Nhật Bản.
Theo lời của Chủ tịch Ban thúc đẩy Đầu tư và Thương mại Hàn Quốc (KOTRA) thì hầu hết các doanh nghiệp Hàn Quốc đang hoạt động tại Việt Nam đầu tư vào lĩnh vực sản xuất sử dụng nhiều lao động như dệt may, may mặc mà không đầu tư nhiều vào các ngành công nghiệp phụ trợ.
Nguồn: Người Quản lý, 8/2005