Tìm kiếm nâng cao

Số truy cập:
Home » Cơ sở dữ liệu toàn văn » Ấn phẩm điện tử » Tri thức và phát triển » 2006 » Số 1 » HỘI NHẬP VÀ PHÁT TRIỂN: » VIỆT NAM ĐANG HỘI NHẬP NHANH CẢ VỀ QUY MÔ VÀ TỐC ĐỘ

VIỆT NAM ĐANG HỘI NHẬP NHANH CẢ VỀ QUY MÔ VÀ TỐC ĐỘ

  
Dạng tài liệu : Bài trích bản tin
Ngôn ngữ tài liệu : vie
Tên nguồn trích : Tri thức và phát triển
Dữ liệu nguồn trích : 2006/Số 1/HỘI NHẬP VÀ PHÁT TRIỂN:
Đề mục : 06.61 Cơ cấu kinh tế theo lãnh thổ. Kinh tế theo vùng
Từ khoá : Việt Nam Hội nhập
Tóm tắt tiếng Việt
Nội dung:
Mặc dù còn phải đối mặt với nhiều khó khăn thách thức nhưng việc Việt Nam đang hội nhập mạnh mẽ vào nền kinh tế toàn cầu và trở thành một trong những đối tác kinh tế thương mại vững vàng trên thế giới đã minh chứng cho hiệu quả của những quyết sách về kinh tế đối ngoại của Việt Nam.
Có thể nói rằng, thiết lập mối quan hệ đối tác toàn cầu vì mục đích phát triển là mục tiêu nhất quán trong chính sách đối ngoại và phát triển kinh tế đối ngoại của Việt Nam, được thực hiện từ nhiều năm qua. Đây cũng chính là một trong 8 mục tiêu trong Tuyên bố Thiên niên kỷ của Liên Hợp Quốc được thông qua tại Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới năm 2000 mà Việt Nam đã tham gia ký kết.
Thành tựu đáng kể trước hết là việc đổi mới cơ chế chính sách, xây dựng hệ thống thương mại và tài chính thông thoáng tạo khả năng cho ngoại thương phát triển. Việt Nam đang đẩy nhanh tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế cả về quy mô và tốc độ. Hệ thống pháp luật kinh tế đã có nhiều thay đổi đáng kể nhằm tạo hành lang pháp lý thông thoáng cho hoạt động sản xuất kinh doanh, phù hợp với những cam kết quốc tế mà Việt Nam tham gia.
Hiện nay, Việt Nam đang tiến tới thực hiện đầy đủ các cam kết Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN (AFTA), từng bước tự do hóa thương mại trong khuôn khổ APEC, chuẩn bị các điều kiện và đang tích cực đàm phán gia nhập WTO. Đồng thời với các đàm phán đa phương, Việt Nam cũng đang tiến hành đàm phán song phương với khoảng 20 đối tác về mở cửa thị trường hàng hóa và dịch vụ.
Đã có 86 hiệp định thương mại song phương và 47 hiệp định bảo hộ đầu tư song phương được ký kết giữa Việt Nam và các nước. Số đối tác thương mại của các doanh nghiệp cũng đang không ngừng tăng ở gần 220 quốc gia và vùng lãnh thổ. Hàng hóa, dịch vụ Việt Nam đã có mặt trên thị trường của trên 160 nước ở tất cả các châu lục, đặc biệt ở các nước EU, Hoa Kỳ, Canađa. Có những mặt hàng đã chiếm dung lượng khá lớn trên thị trường quốc tế như dầu thô, gạo, hàng thuỷ sản, cà phê, cao su, quần áo may sẵn.
Với tổng kim ngạch 78,4 tỷ USD, xuất khẩu trong giai đoạn 2001-2004 đạt mức tăng trưởng bình quân 16%/năm, gấp hơn 2 lần tốc độ tăng GDP, thực sự đóng vai trò là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế. Việt Nam đã thực sự trở thành nước có nền ngoại thương cởi mở với tỷ trọng tổng kim ngạch xuất nhập khẩu trong GDP đạt 149%.
Một thành công khác của Việt Nam trên đường hội nhập phát triển là thu hút và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn từ bên ngoài, bao gồm cả vốn viện trợ phát triển (ODA) và vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI).
Trong khi lượng ODA trên toàn thế giới có xu hướng giảm và các điều kiện tài trợ bị thắt chặt dần, lượng vốn ký kết dành cho Việt Nam trong giai đoạn 2001-2004 vẫn tăng đều đặn hàng năm, đạt khoảng 11,17 tỷ USD, trong đó viện trợ không hoàn lại chiếm 15-20%.
Dù tỷ trọng vốn ODA còn nhỏ, chỉ chiếm khoảng 5% tổng vốn đầu tư phát triển nhưng bằng cách sử dụng hiệu quả, tập trung hỗ trợ thực hiện các mục tiêu phát triển ưu tiên nên nguồn vốn này đã đóng góp tích cực vào công cuộc xóa đói giảm nghèo, phát triển nông nghiệp và nông thôn, y tế, giáo dục đào tạo. Nhiều công trình đầu tư bằng nguồn vốn ODA đã hoàn thành, đưa vào sử dụng góp phần tăng trưởng kinh tế, cải thiện đời sống nhân dân. Giá trị ODA bình quân đầu người mà các vùng nghèo, các vùng khó khăn được trực tiếp thụ hưởng trong thời gian qua đã được cải thiện đáng kể, đạt khoảng 55 USD/người.
Lượng vốn FDI vào Việt Nam cũng không ngừng tăng trong những năm gần đây nhờ các chính sách thông thoáng được ban hành tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp nước ngoài. Trong bốn năm 2001-2004, tổng vốn FDI đăng ký đạt 13,46 tỷ USD; vốn thực hiện đạt 10,5 tỷ USD, chiếm 17% tổng vốn đầu tư phát triển.
FDI đã có vai trò tích cực trong phát triển kinh tế xã hội của đất nước, đặc biệt là bổ sung nguồn vốn quan trọng cho đầu tư phát triển. Thông qua đầu tư trực tiếp của nước ngoài, Việt Nam đã tiếp thu những công nghệ hiện đại trong các lĩnh vực viễn thông, khai thác dầu khí, hóa chất, điện tử, phát triển một số ngành công nghiệp mũi nhọn của đất nước. Nguồn vốn FDI cùng với các phương thức kinh doanh mới đã tạo ra sự cạnh tranh ngay tại thị trường trong nước thúc đẩy doanh nghiệp trong nước phải đổi mới chất lượng sản phẩm và áp dụng phương pháp kinh doanh hiện đại.
Những năm vừa qua, Việt Nam còn đạt được những tiến bộ khả quan trong lĩnh vực quản lý nguồn nợ nước ngoài. Sau nhiều năm là một nước vay nợ nước ngoài khá nhiều, chủ yếu để phục vụ cho hai cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, đến cuối những năm 90, gánh nặng nợ nần đối với nền kinh tế Việt Nam đã giảm đáng kể, đã có những dự án tăng cường quản lý nợ một cách bền vững.
Tuy nhiên, cũng như nhiều nước đang phát triển khác, Việt Nam chia sẻ quan điểm với các chuyên gia Liên Hợp Quốc, được đề cập trong một báo cáo về đầu tư cho phát triển để đạt Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ, rằng tỷ lệ ODA cam kết nhìn chung còn quá thấp so với mức đề ra là 0,7% tổng sản phẩm quốc gia của các nước đang phát triển. Và để đạt được các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ vào năm 2015 như đã cam kết, nguồn ODA chung của thế giới phải được tăng lên 73 tỷ USD trong năm 2006 và 135 tỷ USD năm 2015.
Cùng với đó, những chính sách phi thuế quan, hạn ngạch, trợ cấp xuất khẩu nông sản và nhiều rào cản khác cũng cần được dỡ bỏ để tạo sự bình đẳng cho hàng hoá, dịch vụ của Việt Nam cũng như của các nước đang phát triển khác trên thị trường quốc tế.
(Công nghiệp & Thương mại, No 48/2005)
**********************
 
Trung tâm Thông tin Khoa học Công nghệ Quốc gia